BA MƯƠI BẢY PHẨM TRỢ ĐẠO
Ngày 25 tháng 10 năm 2020 / Chùa Long Quang - Hóc Môn
Giảng viên: HT Cấp Tín / Quảng Trí - Nguyễn Văn Việt
I.
Thống kê
-
Tứ niệm xứ
-
Tứ chánh cần
-
Tứ như ý túc
-
Ngũ căn
-
Ngũ lực
-
Thất bồ đề phần
-
Bát Chánh Đạo phần
II.
Nội Dung
A – Tứ Niệm Xứ
Tứ niệm xứ, tứ ý chỉ,
tứ chỉ niệm, tứ niệm, thân thọ tâm pháp, nghĩa là Bốn phạm
trù thân, thọ, tâm và pháp là nơi để hành giả tập trung
tâm niệm vào một trong bốn điểm này khi tu tập, với mục
đích là đề phòng và, đình chỉ những tạp niệm vọng
tưởng khởi lên. Đây là bốn loại phương pháp dùng để
đạt chân lý trong pháp môn tu hành theo kinh điển Phật
giáo mà đức Đạo sư đã chỉ dạy.
1 . Thân niệm xứ : tức là quán
sát tự tướng của thân là bất tịnh, nhơ nhớp, và cùng
lúcquán sát cộng tướng thân của chúng ta là vô
thường là khổ đau, là không thật, là vô ngã để đối
trị lại các bệnh chấp điên đảo cho là thanh tịnh.
2 . Thọ niệm xứ: tức quán
sát nguyên do đối trong việc hân hoan mong cầu hưởng lạc sẽ
sinh ra khổ đau ngược lại, và cũng đồng thời quán sát cộng
tướng của nó là khổ đau, không thật hữu, để đối
trị bệnh chấp điên đảo cho là lạc thú
3 . Tâm niệm xứ :tức quán
sát tâm thường mong cầu của chúng ta luôn sinh diệt vô
thường biến đổi, và quán sát mọi cộng tướng của chúng
cũng như vậy, để đối trị bệnh chấp điên đảo cho
là thường hằng vĩnh viễn.
4 . Pháp niệm xứ :tức là quán tất cả
các pháp đều nương vào nhân duyênmà sinh khởi, nên sự hiện
hữu của chúng là không có tự tánh, và tất cả những cộng
tướng khác cũng được quán sát như vậy, để đối
trị bệnh chấp ngã điên đảo.
*** Quán Thân bất tịnh – Quán thọ thị
khổ - Quán tâm vô thường – Quán Pháp vô ngã
>>> Tịnh Lạc Thường Ngã ( Thường Lạc Ngã Tịnh)
Bốn niệm
xứ là quán thân như thân, quán thọ như thọ, quán
tâm như tâm và quán pháp như pháp.
“Luôn luôn trong từng khoảnh khắc lập tâm chánh trú
nơi Bốn niệm xứ thì nếu buổi sáng thực hành như
vậy, nhất định buổi tối liền được thăng tiến. Nếu buổi tối thực
hành như vậy, nhất định sáng hôm sau sẽ được thăng tiến.” Ở đây
đức Đạo sư muốn nói đến sự thăng tiến đạt đến kết quả
của cứu cánh Niết-bàn an vui giải thoát trong hiện
quán.
B – Tứ Chánh Cần
Tứ chánh cần được
ghi lại như sau:
1. Vì muốn đoạn trừ
những việc ác đã sinh, mà siêng năng tinh tấn.
2. Vì muốn khiến cho
những việc ác chưa sinh không cho phát sinh, mà siêng năng tinh
tấn.
3. Vì muốn khiến cho
những điền thiện chưa phát sinh có thể phát sinh, mà siêng năng tinh tấn.
4. Vì muốn khiến cho
những điều thiện đã phát sinh có thể làm tăng trưởng hơn lên, mà
siêng năng tinh tấn.
Nhờ nổ lực một lòng siêng năng tinh tấn hành bốn pháp
này cho nên gọi là Tứ chánh cần.
C – Tứ Như Ý Túc
Tứ như ý túc, ở đây có nghĩa là mọi thành
tựu được theo như sở nguyện của hành
giả khi tu tập bốn pháp này. là bốn pháp làm nền tảng, nơi
nương tựa phát sinh ra các thứ công đức thiền
định cho hành giả và, kết quả của chúng theo như ước
muốn của người tu tập
1.
Dục như ý túc :
Thiền định phát khởi là nhờ sức mạnh của ý
muốn tư tưởng mà đạt được thần thông. Dục ở đây chỉ cho ước
muốn, mong cầu một cách thiết tha, mong muốn đạt đượcnhững gì đang ở ngòai
tầm tay hành giả; hay mong cầu những ước muốn của chúng ta cho
đến khi đạt được những sở nguyện đó mới thôi.
2.
Tinh tấn như ý túc : Thiền định phát khởi là nhờ
vào sức tinh tấn nổ lực tu tập của hành giả.
Khi hành giả đã có mong cầu ước muốn rồi mà không có sự tinh
tấn nổi lực để thực hành tu tập thì ước muốn đó cũng
thành vô dụng, chỉ có trên lý thuyết thôi, mà trong thực
tế thì là con số không. Do đó tinh tấn nổ lực là điều
kiện tất yếu để hòan thành bổn nguyện của hành giả .
3.
Nhất tâm như ý túc : Thiền định phát sinh nhờ sức
mạnh của tâm niệm. Một lòng chuyên nhất trụ nương
vào sức mạnh của tâm, nên định dẫn phát mà khởi lên. Như mặt
trời tia sáng chiếu khắp mọi nơi, ánh sáng của nó bị yếu dần đi
và, trở nên hòa dịu không thiêu đốt vạn vật được. Nhưng nếu tia
sáng mặt trời kia mà qua thấu kính hội tụ thì nó có thể thành lửa
thiêu đốt bất cứ thứ vật chất nào trên thế gian này. Hay
như giòng sông lớn, nếu bị chia làm nhiều giòng chảy nhỏ thì sức chảy của nó bị
yếu đi. Trái lại, chỉ một giòng suối nhỏ, không chảy nhiều đường,
cũng đủ sức xuyên thủng đá tảng. Hành giả tu tập cũng
lại như vậy, khi tâm mình định nhất vào một đối tượng nào đó một
cách chuyên nhất thì, vọng tâm sẽ không khởi lên được và
không bị tán loạn, khi đó không việc gì không thành tựu.
4.
Quán như ý túc: Thiền định phát sinh nhờ sức
mạnh tư duy quán sát Phật lý. Hành giả nương vào sức
mạnh tư duy quán sát nên định dẫn phát mà sinh khởi.
*** Tứ Như Ý Túc / Tứ
Thần Túc : “Bốn pháp này theo vị gia hạnh mà thành lập tên
thì:
1/ Dục thần túc,
ở đây dục đối với vị của gia hạnh mà khởi lên định nầy, vì nương vào
sức sức mạnhcủa dục, nên định dẫn phát mà khởi lên.
2/ Cần thần túc,
ở đây đối với vị của gia hạnh mà siêng năng tu tập định
này, nhờ nương vào sức mạnhcủa siêng năng tinh tấn nên định dẫn
phát mà khởi lên.
3/ Tâm thần túc,
ở đây đối với vị của gia hạnh nhất tâm chuyên trụ, nhờ nương
vào sức mạnh của tâm, nên định dẫn phát khởi lên.
4/ Quán thần túc,
ở đây đối với vị của gia hạnh, quán sát tư duy lý, nhờ
nương vào sức mạnh của quán, nên định dẫn phát mà khởi lên.
Trong địa
vị của gia hạnh tuy có nhiều pháp, nhưng bốn pháp này là lợi
ích tối thắng. Cho nên từ bốn pháp này mà gọi tên”.
D – Ngũ Căn
NGŨ CĂN (Pañcānām indriyāṇām) ở đây chỉ cho năm vô lậu
căn, là năm nền tảng căn để, đưa đến việc sản sinh và, tăng
trưởng thiện nghiệp, là con đường đưa về Thánh đạo,
chúng câu hữu với tác dụng tăng thượng giải thóat
cho hành giả, cho nên gọi là năm căn. Theo Luận Trí Độ 10, giải
thì: “Năm căn này là nền tảng căn bản để phát sanh ra tất cả
các thiện pháp, nên gọi là ngũ căn”
1. Tín căn (Śraddhendriya): là lòng tin được
đặt trên chiều hướng câu hữu với thiện pháp và đưa đến giải
thóat, tức là tin một các vững chắc vào Tam bảo, tin một
cách như thật vào đạo lý Tứ đế. Lòng tin này được đặt
trên nền tảng như thật không giống như lòng tin mù
mờ, vô căn cứ, không thấy, không biết, không nghe mà vẫn cứ tin, đó gọi là
tin mù quán, mê tín dị đoan không có cơ sở, bất chấp
sự thật của hầu hết các bộ phái ngoại đạo. Lòng tin ở
đây là con đẻ của lý trí, là kết quả của sự suy luận so
sánh đối chiếu sáng suốt, của sự quan sát tư duy kỹ
càng chứ không phải của tình cảm đam mê lú lẫn.
2. Tấn
căn (Vīryendriya): Là sự nổ lực siêng năng, tinh tấn dũng
mãnh trong việc thực hành tu tập các pháp lành mà hành
giả đã lựa chọn, không bao giờ để cho thối lui. Nếu hành
giả đã có lòng tin chắc chắn vào pháp tu mà không nổ lực
siêng năng tinh tấn thực hiện thì, lòng tin suông
trên lý thuyết đó sẽ trở thành vô dụng, không đưa hành
giả chúng ta đạt đến cứu cánh giải thóat được.Nên hành
giả nào đã tin tưởng vào Tam bảo, thì phải luôn luôn nổ lực
siêng năng, tinh tấn thực hànhgiáo lý của Phật mà mình đã chọn
3. Niệm
căn (Smṛtīndriya): Mục tiêu của niệm là nhớ nghĩ đến những
pháp câu hữu với giải thóat, giúp hành giả nếu
muốn đạt được mục đích thì, cần phải nhờ vào những
pháp phương tiện trợ duyên pháp hành của mình. Nhớ nghĩ ở
đây liên quan đến: a) Niệm thí ; b) Niệm giới như : - Nhiếp
luật nghi giới - Nhiếp thiện pháp giới - Nhiêu ích hữu tình giới ;
c) Niệm thiên
4. Định
căn (Samādhīndriya): Định nói cho đủ là Chánh định dịch nghĩa từ
chữ Samādhi phiên âm là Tam-ma-địa. Định là khiến tâm hành giả trụ
vào một nơi, một chỗ để lắng tâm yên tịnh, chuyên
chú vào chánh pháp, không cho tâm hành giả tán
loạn mà quán sát suy đạt thật nghĩa của nó. Còn căn phạn ngữ gọi
là indriya bao gồm vừa có nghĩa tăng thượng vừa có
nghĩa sinh khởi. Do đó định căn có nhiệm vụ khiến
cho tâm hành giả dừng lại một chỗ, không vì hòan cảnh ngoại tại mà
sức thiền định bị dao động; vì sức thiền định này có
khả năng sinh khởi ra mọi thứ công đức và làm chúng
tăng trưởng lên. Cho nên gọi là căn.
E – Ngũ Lực
- NGŨ LỰC :
tức là năm lực này có được nhờ vào năm căn tăng trưởng sinh
ra trong lúc hành giả tu hành, chúng chính là sức mạnh duy
trì sự liên tục đưa đến giải thóat cho hành giả. Đó chính
là thần lực của năm căn, chúng có khả năng đối trị thế
lực của năm chướng. Nói một cách dễ hiểu: Ngũ căn như năm
cánh tay của chúng ta, còn ngũ lực như là sức mạnh của
năm cánh tay ấy.
1. Tín lực :
Tức là sức mạnh do tín căn sinh ra, với công
năng là phá hủy tất cả mọi thứ tà tín.
2. Tấn lực :
Tức sức mạnh do tinh tấn căn sinh ra, có công
năng phá hủy mọi sự lười biếng nhác nhớm của thân và, lúc
nào cũng siêng năng tinh cần trong việc chỉ ác hành thiện,.
trong việc thực hành tu tập tứ chánh cần.
3. Niệm lực :
Tức là sức mạnh do niệm căn sinh ra, hay sức
mạnh lớn lao bền chắc của niệm căn, với khả năng phá hủy
mọi thứ tà niệm và, dùng pháp tứ niệm xứ để giữ gìn chánh
niệm.
4. Định lực :
Tức sức mạnh do định căn sinh ra, với khả năng chống phá
các thứ lọan tưởng, bằng vào chuyên tâm thiền định để đọan trừ
các dục phiền não.
5. Huệ lực :
Tức sức mạnh do huệ căn sinh ra, với khả năng
phá hoại các hoặc của ba cõi, bằng vào quán ngộ Tứ
đế, thành tựu trí tuê, mà đạt được giải thóat.
Tóm lại, Năm căn là
nền tảng có khả năng sản sinh ra và, làm tăng thượng các thiện
nghiệp, thì năm lực chính là sức mạnh để chận
đứng, triệt tiêu các thế lực vô minh phiền
não bất thiện và, tác dụng các khả năng tăng
thượng các pháp lành. Như những trình bày ở trên, Ngũ
căn và Ngũ lực vừa là những nền tảng căn bản phát sinh
các thiện pháp và, làm tăng thượng vô lượng công
đức thù thắng đưa hành giả đến Thánh đạo, vừa có khả năng chận
đứng tiêu diệt các pháp ác bất thiện vô minh, giải thóat
mọi thứ phiền não mà đạt niết-bàn an vui; chúng là những nền tảng cơ
bản để hành giả làm nhân tư lương tốt trong việc thực
hiện giải thóat đưa về Thánh đạo.
F – Thất Bồ Đề Phần
Thất giác chi là hành pháp thứ sáu thuộc
bảy hành pháp trong ba mươi bảy phẩm trợ đạo. Thất giác chi
còn gọi là Thất Bồ-đề phần, Thất đẳng giác chi, Thất biến
giác chi, Thất giác phần, Thất giác ý, Thất giác chí, Thất
giác chi pháp ... Theo nguyên ngữ của Saptabodhyaṅgāni thì được định
nghĩa như là bảy pháp có khả năng làm trợ duyên trong việc triển
khai trí tuệ giác ngộ cho hành giả để đạt
đến Niết-bàn an vui giải thóat
1/ Niệm giác
chi : khi hành giả muốn tu tập thì phải dùng đến pháp
quán Tứ niệm trụ (Tứ niệm xứ), Khi hành giả đã nhờ Tứ
niệm trụ/Tứ niệm xứ , quán sát thân, thọ, tâm và pháp trong ngoài bằng
vào chánh cần chánh tri, chánh niệm biết rõ được bộ mặt
thật của các pháp, nên vấn đề tu tập phải có sự lựa
chọn tiếp theo, đó trong pháp tu của hành giả.
2/ Trạch pháp
giác chi: Tiếp theo là đệ tử của bậc Thánh, phải thường
biết như thật pháp nào thiện, pháp nào bất thiện; pháp nào có
tội, pháp nào không tội; pháp nào đáng tu, pháp nào không đáng tu; pháp
nào hạ liệt, pháp nào thắng diệu; pháp nào đen, pháp nào trắng; pháp đối
địch, pháp duyên sinh. Nếu ở đây hành giả biết tất cả pháp
là như thật, pháp nào thiện, pháp nào bất thiện cho
đến pháp duyên sinh thì sẽ có được sự tương ưng giữa vô
lậu và tác ý; đối với sự lựa chọn đến chỗ kỳ cùng, không
còn lựa chọn được nữa; hiểu rõ, tỏ gần tỏ xa, thông
đạt tất cả, quán sát thông tuệ, tuệ hạnh sáng tỏ, gọi chung
là tuệ, cũng gọi là tuệ căn, cũng gọi là tuệ lực, cũng gọi
là trạch pháp giác chi, cũng gọi là chánh kiến. Sau khi hành
giả đã lựa chọn pháp tu cho mỗi người rồi thì, cần phải có
sự siêng năng nổ lực trong pháp tu của mình.
3/Tinh tấn giác
chi: Tiếp đến đệ tử bậc Thánh, sau khi đã biết lựa chọn, biết
pháp nào thiện pháp nào ác rồi trong thực hành chỉ ác
hành thiện thì phải tinh tấn dùng phương pháp Tứ chánh
cần để tu tập. Vì muốn đọan trừ các pháp ác, bất thiện đã
sinh ra, nên siêng năng tinh tấn kiểm sóat tâm, giữ gìn tâm
.Vì muốn cho các pháp ác bất thiện chưa sinh sẽ không sinh, nên
phải khởi lòng siêng năng tinh tấn kiểm sóat tâm, giữ
gìn tâm . Vì muốn pháp lành chưa sinh khiến sinh, nên phải khởi lòng siêng
năng tinh tấn trong việc khởi lên ý nghĩ nên hay không nên và,
đem áp dụng vào trong việc làm nên hay không nên trong việc
kiểm sóat tâm và giữ gìn tâm . Vì muốn những việc thiện đã
phát sinh trong việc nuôi lớn vững bền thêm không khiến tâm quên, và
muốn làm tăng trưởng rộng lớn trí tuệ tác
chứng nên hành giả phát khởi lòng mong muốn siêng năng nổ
lực tinh tấn kiểm sóat tâm mình, giữ gìn tâm mình lúc nào
cũng thanh tịnh.Nếu là A-la-hán cùng tâm giải thóat, tư duy qúan
sát, khiến đạt cứu cánh và sẽ có được sự tương
ưng giữa vô lậu và tác ý, mọi nổ lực tinh
tấn, cho đến gắng ý không dừng nghỉ, đó gọi là Tinh tấn giác
chi.
4/ Hỷ giác chi:
Khi Thánh đệ tử đã nổ lực tinh tấn thực hành những
pháp mà mình đã chọn rồi qua chỉ ác hành thiện rồi nhờ lúc cùng
nhau niệm Phật như vậy thì tham không trói
buộc tâm, sân không trói buộc tâm, si không trói
buộc tâm. Đối với Như lai, tâm hành giả ngay thẳng thì
sẽ đạt được nghĩa và pháp oai thế; đối với Như lai có khả
năng dẫn khởi hân hoan, nhờ hân hoan nên sinh tâm hoan hỉ;
khi được hoan hỉ thì thân an; thân an thì sẽ hưởng lạc; được an
lạc nên tâm định.
5/ Khinh an giác
chi: Tiếp tục hành giả nhờ tâm tánh hoan
hỉ đang hiện có, hành giả nhập vào sơ thiền, ngôn
ngữ lúc bấy giờ dừng nghỉ. Nhờ duyên này mà các pháp khác cũng yên nghỉ,
đó gọi là trạng thái thuận khinh an thứ nhất; khi nhập
vào đệ nhị thiền, tầm và từ (giác, quán) yên nghỉ, nhờ duyên này mà các
pháp khác cũng yên nghỉ, đó dọi là trạng thái thuận khinh
an thứ hai; khi hành giả nhập vào đệ tam thiền; các hỉ ở
đây bấy giờ cũng yên nghỉ, nhờ duyên này các pháp khác cũng lặng yên, đó
là trạng thái thuận khinh an thứ ba; khi nhập vào đệ tứ
thiền, hơi thở ra vào lặng yên, nhờ duyên này các pháp khác cũng an
nghỉ, đó là trạng thái thuận khinh an thứ tư; tiếp
tục lúc nhập vào diệt thọ tưởng định, ở đây tưởng thọ vắng bặt nhờ
duyên này mà các pháp khác cũng không hiện hữu, đó gọi là trạng
thái thuận khinh an thứ năm và, cũng có khinh
an thượng diệu thứ sáu là tối thắng tối thượng. Khinh
an này là tối thượng tói diệu không có khinh
an nào khác vượt qua nó. Vì sao vậy ? Vì tâm từ tham
lìa nhiễm mà giải thóat và, từ sân, si lìa khỏi nhiễm mà giải thóat, nên gọi
đây là trạng thái thuận khinh an thứ sáu. Hành
giả tư duy về trạng thái này thì sẽ sở hữu được mọi
sự tương ưng giữa vô lậu và tác ý, tâm nhẹ nhàng, tánh
nhẹ nhàng loại nhẹ nhàng, gọi chung là khinh an, cũng gọi là khinh an
giác chi. Đối với Thánh đệ tửchúng có khả năng diệt hết khổ; đối với các
hàng hữu học, các hành như sở kiến của mình mà tư duyquán
sát sẽ đạt cứu cánh; đối trong các hành thấy rõ lỗi lầm, đối
Niết-bàn vĩnh viễn thấy rõ công đức. Nếu là A-la-hán cùng tâm
giải thóat, tư duy qúan sát, khiến đạt cứu cánh và sẽ có
được sự tương ưnggiữa vô lậu và tác ý; thân, tâm, tính,
loại khinh an, đó gọi là khinh an giác chi.
6/ Định giác chi:
Khi hành giả nhờ vào sơ thiền, nhị thiền, tam
thiền, tứ thiền, không vô biên xứ, thức vô biên xứ, vô sở
hữu xứ, phi tưởng phi phi tưởng xứ và Diệt tận định thì sẽ diệt
trừ tận gốc rễ của các lậu. Đối với Thánh đệ tử chúng có khả
năng diệt hết khổ; đối với các hàng hữu học, các hành như sở
kiến của mình mà tư duy quán sát sẽ đạt cứu cánh; đối
trong các hành thấy rõ lỗi lầm, đối Niết-bàn vĩnh viễn thấy rõ công
đức. Nếu là A-la-hán như tâm giải thóat, tư duy qúan sát, khiến
đạt cứu cánh và sẽ có được sự tương ưng giữa vô
lậu và tác ý, tâm an trụ bình đẳng, cho đến tâm
chỉ còn tánh cảnh duy nhất, thì đó gọi là định giác chi.
7/ Xả giác chi:
Đến đây, hành giả nhờ tư duy về đọan giới, ly giới, diệt
giới trong những định trên và, cũng nhờ tâm phát khởi tính bình
đẳng, tâm trở nên tánh chính trực, tâm không còn kỉnh giác mà an
trụ vào tính tịch tĩnh. Đối với Thánh đệ tử chúng có khả năng
diệt hết khổ; đối với các hàng hữu học, các hành như sở kiến của
mình mà tư duy quán sát sẽ đạt cứu cánh; đối trong các hành
thấy rõ lỗi lầm, đối Niết-bàn vĩnh viễn thấy rõ công đức.
Nếu là A-la-hán như tâm giải thóat, tư duy qúan sát, khiến
đạt cứu cánh và sẽ có được sự tương ưng giữa vô
lậu và tác ý, tâm trụ vào tính bình đẳng, tâm trụ vào
tính chánh trực, tâm không còn kỉnh giác mà trụ vào
tính tịch tĩnh thì, đó gọi là xả giác chi.
*** Qua Thất giác chi chúng ta một cái nhìn duyên
khởi hơn trong vấn đề tu tập để đối
trị với ba độc tham, sân, si trên cơ bản bằng cách ly tham,
sân, si để đưa đến giác nộ giải thóat bằng vào sự tu tập theo thứ tự
từ giác chi thứ nhất cho đến giác chi thứ bảy
trong liên đới hỗ tương cần thiết cho nhau;
Nhưng mặc khác mỗi giác chi tự chúng tự hòan thành
riêng cho mỗi thứ trong tu tập chính chúng như chính đức Đạo
sư đã dạy trong Tương Ưng V theo Tạng hệ Pàli: "Tu tập
một giác chi đã có thể thành tựu mục đích của đời
sống phạm hạnh, huống nữa là tu tập cả Thất giác chi". Vì
chính ngay trong mỗi một giác chi chúng đã hiện diện nhân
và duyên một cách đầy đủ qua sự cần thiết đủ để pháp đó hiện
hữu một cách trọn vẹn bảy chi trong một chi; và ngược lại một
chi trong bảy chi, nếu thiếu một trong bảy chi đó thì tự chúng không hiện
hữu để hòan thành kết quả.
Ngay trongchánh niệm của niệm giác chi đã
có trạch pháp giác chi đã có tinh tấn giác chi, đã có hỷ
giác chi, đã có khinh an giác chi, đã có định giác chi và, đã có
xà giác chi rồi; vì nếu thiếu xả thì không thể có được chánh
niệm, thiếu trạch pháp giác chi thì sẽ không có chánh niệm,
thiếu tinh tấn giác chi thì sẽ không có chánh niệm giác
chi, thiếu hỷ giác chi thì sẽ không có chánh niệm giác chi,
thiếu khinh an giác chi thì sẽ không có chánh niệm giác
chi rồi, và cứ như thế nếu thiếu đi một trong bảy nhân và duyên của
bày giác chi này thì chánh niệm giác chi không hiện
hữu để đưa đến kết quả thành công.
Do đó Sự thành tựu trong tu
tập của hành giả qua một giác chi nào đó cũng chính là
sự thành tựu của chính bảy giác chi đồng lúc.
Đó chính là mặc sâu xa vi tế của bộ
mặt duyên khởi hiện quán theo quan điểm đặc thù của Phật
giáo theo bản thể luận còn theo mặt hiện tượng
luận sai biệt của các pháp thì có bảy chi pháp, để từ đó hành
giả cứ theo thứ tự thời gian mà hòan thành theo thứ
lớp tuần tự của chúng. Đây chính là đặc điểm khế
cơ khế ký trong phương pháp giáo dục và tu
tập của đạo Phật.
E. BÁT CHÁNH ĐẠO
Bát chánh đạo là hành pháp thứ bảy trong Ba mươi bảy phẩm
trợ đạo .Hành pháp Bát Chánh Đạo là pháp môn thật tiễn đại
biểu đặc trưng tối quan trọng cho những lời dạy của đức Đạo
sư trong ba mươi bảy phẩm trợ đạo. Vì pháp môn này là
một phương pháp chính xác để hành giả hướng đến
Niết-bàn giải thoát, là một con đường ngắn nhất đưa hành
giả đến chỗ an vui tịch tĩnh, là con đường được Đạo sư nói
ra lần đầu tiên sau khi Ngài thành Đạo tại vườn Nai cho năm
anh em Kiều Trần Như bạn tu của Ngài trước đó để tránh xa
hai thái độ sống cực đoan giữa đau khổ (khổ hạnh)
và, khoái lạc (hạnh phúc) đưa hành giả đến con đường Trung
đạo không vướng mắc hai bên.
Bát chánh đạo gồm
có tám chi sau:
Chánh kiến :(pāli:sammàditthi),
thấy đúng.
Chánh tư duy (pāli: sammàsankappa): suy nghĩ đúng.
Chánh ngữ (pāli: sammàvàca): nói đúng.
Chánh nghiệp (pāli: samm kammata): làm việc đúng.
Chánh mạng (pāli: sammààjiva): sống đúng.
Chánh tinh tấn (pāli: sammààyàma): siêng năng đúng.
Chánh niệm (pāli: sammà satti): nhớ đúng.
Chánh định (pāli: sammà samàdhi): tập trung đúng.
1/ Chánh kiến,
còn gọi là chánh đế, tức thấy khổ là khổ, tập là tập, diệt là diệt, đạo là đạo,
có nghiệp thiện ác, có nghiệp báo thiện ác, có đời này đời kia,
có cha mẹ, có người chơn đến nơi thiện, bỏ thiện hướng thiện, nơi đời này,
đời kia, tự giác tự chứng thành tựu. "Khi nào vị
Thánh đệ tử biết già chết, tập khởi của già chết, đoạn
diệt của già chết và con đường đưa đến đoạn diệt già
chết, này chư Hiền, khi ấy vị Thánh đệ tử có chánh kiến...”
-
Chánh kiến : nhận biết đúng đắn ( tức Thấy)
-
Thấy Tứ đế sự thật nhiệm mầu
-
Thấy sự thật Khổ
·
KHổ
-
Từ cảm thọ lối sống : 1 dục lạc / 2 khổ hạnh ép xác >> tạo
Khổ
-
Đặc tính khổ : 1- là một thực trạng do xung đột giũa bản thân và
môi trường; 2- mang tính phổ biến do Vô thường.
-
Nên Sự thật khổ:
+ Khổ là một thực
trạng duyên khởi, có tính chất vô thường, vô ngã
+ Yếu tố then chốt tạo
nên khổ là Tham Ái và chấp thủ ( tức phiền não tập khí)
+ Khổ diệt chính là an
lạc hạnh phúc
+ Biện pháp diệt khổ
tận gốc là biện pháp diệt trừ lòng tham ái và chấp thủ. Biện pháp đó là Bát
Chánh Đạo (Đạo Đế/ ba mươi bảy phẩm trợ đạo/ )
2/ Chánh tư duy,
còn gọi là chánh chí, chánh phân biệt, chánh giác hay đế niệm,
tức là không có dục giác, nhuế giác và, hại giác, là chi thứ hai
trong Bát chánh đạo, tức là hành giả phải tư duy suy
nghĩ về đạo lý chân thật để xa lìa tham
dục, sân nhuế, hại niệm thuộc những cách tư duy tà
vạy thiếu chính xácđưa hành giả đến con
đường nuôi lớn tham, sân, si tạo nghiệp ba đường dư trói buộc trong sinh
tử luân hồi. Ngược lại hành giả phải luôn luôn tư duy suy
nghĩ về con đường giải thóat vô tham, vô sân, vô
hại bằng cách không tư duy suy nghĩ đến chúng.
3/ Chánh ngữ, còn
gọi là chánh ngôn, đế ngữ, là chi thứ ba trong Bát chánh đạo, nghĩa là xa
lìa lời nói hư dối, hai lưỡi, ác khẩu, thêu dệt. Vì
những lời nói này câu hữu với vô minh sẽ
đưa hành giả vào ba đường ác, ngược lại là những lời
nói chân thật, lời nói hòa hợp lợi mình lợi người, lời
nói nhẹ nhàng không thô ác nặng nề, lời nói không thêu
dệt phù phiếm, câu hữu với phước báo an vui hạnh
phúc. Nói chung những lời nói nào mang lại lợi cho mình và có lợi
cho mọi người, chúng tạo nhân hướng thiện làm phước báo sanh y
cho hành giả trong tương lai thì đó gọi là chánh ngữ
4/ Chánh nghiệp,
còn gọi là chánh hành, đế hành, là chi thứ tư trong Bát chánh đạo, chỉ cho
hành động, tạo tác chân chánh (tác nhân thiện nghiệp), tức
chỉ thân, khẩu, ý ba nghiệp thanh tịnh; tức xa lìa sát
sinh, không cho mà lấy, tà dâm, nói dối … nói chung là hành
giả sống từ ý nghĩ, tạo tác hành động, lời
nói luôn xa lìa mọi thứ tà vọng thì, gọi đó là chánh
nghiệp. Nói chung tất cả mọi hành động của chúng ta từ lời
nói đến việc làm và trong ý nghĩ chúng câu
hữu với nhân quả thiện đưa đến giải thóat thì đều gọi
là chánh nghiệp .
5/ Chánh mạng,
còn gọi là đế thọ, chánh mạng đạo chi, là chi thứ năm trong Bát
chánh đạo, là chỉ cho cách sống của hành giả, phương
pháp sanh nhai hằng ngày mang lại cơm no áo ấm, thuốc thang, và
những nhu cầu cần cho cuộc sống trong gia đình. Là hành giả tu
tập theo chánh pháp của Phật thì trước hết phải thanh
tịnh hóa ý nghiệp trong từng ý nghĩ bằng các không
nghĩa đến những điều ác hại mình hại người, mà phải có những ý
nghĩ đem lại lợi ích vui vẻ cho chính mình và cho mọi
người chung quanh gần nhất là những người thân trong gia
đình và, xa hơn nữa là xã hội; kế đến là thanh
tịnh thân, khẩu nghiệp của mình bằng vào những công việc
làm và những lời nói trong công việc khi giao thiệp; hành
giả phải tránh xa mọi công việc làm đưa đến hại mình, hại người như
học nghề chú thuật, bói tóan … lường gạt kẻ khác, mà ngược
lại hành giả phải sống đúng với chánh pháp nghĩa
là chúng ta phải lựa chọn những nghề nghiệp nào mang lại
mọi lợi ích an vui cho mình cho người thì chúng ta chọn
nghề đó để sống. Đó gọi là nghề nghiệp sinh sống chánh đáng của
một hành giả thực hành chánh pháp của đức Phật.
6/ Chánh tinh
tấn, còn gọi là chánh phương tiện, chánh trị, đế pháp, đế trị, là chi
thứ sáu trong Bát chánh đạo, chỉ cho mọi sự nổ lực siêng năng tinh
cần trong bốn việc mà hành giả cần phải hạ quyết tâm phát
nguyện trong lúc tu tập để thanh tịnh ba
nghiệp thân khẩu, ý trong chỉ ác hành thiện: Pháp ác nào đã phát
sinh hãy nhanh chóng trừ diệt chúng, pháp ác nào chưa phát sinh nổ
lực ngăn chận chúng không cho khởi sinh; pháp thiện nào chưa phát
sinh hãy nhanh chóng làm cho chúng phát sinh, pháp thiện nào đã
sinh tiếp tục là cho chúng tăng trưởng hơn lên.. Sự siêng
năng đúng ờ đây chúng cũng được quan niệm như là pháp Tứ chánh
cần mà trước đây chúng tôi đã đề cập qua.
7/ Chánh niệm,
còn gọi là đế ý, là chi thứ bảy trong Bát chánh đạo, dùng cộng
tướng của bốn pháp thân, thọ, tâm và, pháp mà quán. Đây là
một hình thức khác của Tứ niệm xứ, điều mà chúng
tôi cũng đã đề cập đến trước đây. Ở đây chúng tôi cũng xin đề
cập vắng tắc một chút, là hành giả chúng ta luôn luôn nhớ nghĩ
về tánh tướng của tất cả các pháp một cách như thật mà
không để lãng quên mất. Chúng ta có thể phân chánh niệm ra
hai loại:
- Nhớ nghĩ đúng
về pháp hữu lậu thế gian, tức là hành giả chúng
ta luôn nhớ nghĩ về những thiện niệm, tác ý tương
ưng với pháp hữu lậu.
- Nhớ nghĩ đúng về
pháp vô lậu xuất thế gian, tức là hành giả chúng
ta nương vào chánh kiến vô lậu mà thường tư
duy suy nghĩ như thật về mọi đối tượng, với sự tác
ý tương ưng với pháp vô lậu với những ý niệm ghi
nhớ rõ ràng không bao giờ quên.
Đó là hai cách nhớ
nghĩ chân chánh đúng chánh pháp về thiện và thiện giải thóat dành
cho hành giả khi tu tập chánh niệm.
8/ Chánh định,
còn gọi là đế định, là chi thứ tám của Bát chánh đạo, mục
đích của chi này là giúp hành giả xa lìa pháp dục
ác bất thiện thành tựu bốn pháp thiền: sơ thiền, nhị
thiền, tam thiền và, tứ thiền.
Định là trạng thái an
tịnh của Tâm, không bị ràng buộc vào một cái gì cả. Vì thế yếu tố then chốt của
Định chính là Xả ( hỶ , Khinh An, Định , Xả) từ bỏ Tham Ái, xả ly diệt sạch mọi
tham ái và chấp thủ , nghĩa là chấm dứt khổ. Vì thế Đức Phật từng tuyên bố :
Tâm bất động, là giải thoát, bất tử.
Tóm lại, Bát
chánh đạo là tám chi nhánh cần và đủ để hành giả từ đó có thể
mượn chúng là con đườngđưa đến giải thóat khổ đau, hay Bát chánh
đạo là con thuyền để nhờ vào đó mà hành giải vượt qua khỏi
bờ bên này tức là bờ đau khổ sang bờ bên kia tức
bờ giác ngộ giải thóat.
Trong Bát chánh đạo chúng ta nhận thấy có sự hệ mật
thiết giữa hành pháp thứ tám này cùng với bảy hành
pháp trợ đạo khác. Sự có mặt trong nhau qua sự phối hợp sau
đây để hành giả có cái nhìn tổng quát và hiểu rõ một cách
cơ bản về sự liên hệ này:
- Chánh
niệm trong Bát chánh đạo chính là ý nghĩa nội dung
của Tứ Niệm xứ (trụ); cũng chính là niệm căn, niệm
lực của Ngũ căn-Ngũ lực; cũng là niệm giác chi của bảy Giác
chi; và là tâm thần túc của Tứ thần túc ( Tứ như ý túc).
- Chánh tinh
tấn chính là ý nghĩa nội dung của Tứ Chánh cần; cũng chính
là tinh tấn thần túc của Tứ thần túc.
- Chánh tư
duy là trạch pháp giác chi; cũng chính là quán thần
túc của Tứ thần túc.
- Chánh
kiến là tuệ căn, tuệ lực;
- Chánh
định là hỷ, khinh an, định, xả giác chi.
Chính vì sự quan hệ này nên được đức Đạo sư gọi là pháp trợ
đạo cho Đạo đế, con đường trung đạođưa hành giải thóat
ra khỏi khổ để chứng đắc Niết-bàn an lạc giải thóat, phần
này chúng tôi đã đề cập đầy đủ trong phần Đạo
đế trong Tứ Đế xin xem lại qua những bài viết trước
cũng trong Tập san Pháp Luân này.
III.
Kết luận
…………..
“ Thập Lục Hạnh
Đi chậm khoan thai
Đứng ngay yên lặng
Ngồi thảng vững vàng
Nằm nghiêng trang nghiêm
Nói dịu dàng lời
Làm hòa hưỡn chuyện
Ăn lặng lẽ bát
Mặc chỉnh tề y
Thức nhớ đạo lành
Ngủ quên đời ác
Sống nương cực lạc
Chết nghĩ Niết bàn
Thân không tội lỗi
Tâm chẳng kiêu sa
Trí đừng mê tối
Tánh chớ vọng tà
( Trích Minh Đăng Quang giáo pháp) ”
------

0 Nhận xét