Header Ads Widget

Responsive Advertisement

TRAU DỒI TRÍ TUỆ TRAU DỒI ĐỨC TÍNH




TRAU DỒI TRÍ TUỆ

TRAU DỒI ĐỨC TÍNH


I. KHÁI NIỆM:

1. Đức tính:

-   Tính tốt hợp với đạo lý làm người.

-   Những quy ước của mỗi xã hội khác nhau.

-   Có thể đúng, có thể sai.

2. Kiến thức: (vay mượn, phạm vi phân biệt)

-   Học từ trường lớp, thầy cô, bạn bè, được tích lũy từ kinh nghiệm thực tiễn

-   Về hình thức: được bởi tổ chức hay cá nhân thông qua các trải nghiệm thực tế hay thông qua sự giáo dục đào tạo có thể lý giải được

-   Có tính khách quan: tiếp thu từ thất bại, thành công.

-   Học nhanh - hữu sư trí: hiểu biết trên sách vở, ngôn từ vướng vào ngôn ngữ, văn tự.

-   Được cung kính, khen, tán thưởng cũng chỉ là mộng

3. Trí tuệ: (có sẵn, không dính mắc)

-   Ưu tiên cho quy trình nhân quả, các quy trình còn lại chỉ là thứ yếu.

-   Học sâu, vô sư trí: hiểu biết của bậc Thánh đều buông bỏ.

-   Có tính chủ quan: những suy luận có được dựa vào mối liên hệ thông qua lăng kính 5 giác quan (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân; nhận biết được 5 đặc tính của sự vật (sắc, thinh, hương, vị, xúc); sự tu tập chế ngự triệt tiêu tính chủ quan đi sát với sự thật. Các phương pháp chế ngự gọi là Thiền định.

-   Được khen chê, nói tốt hay xấu hiểu đó cũng chỉ là mộng không thật.

-   Trở về trạng thái lắng yên là cắt được tất cả trần duyên.

-  Trí tuệ khả năng nhận biết khổ đau, nguồn gốc khổ đau, sự chấm sứt khổ đau, và con đường diệt khổ.

-  Trí tuệ đồng nghĩa với tuệ giác, thông suốt cả pháp giới chúng sanh xuyên suốt cả 3 đời bao trùm cả mười phương quốc độ, một sự thấy biết không hạn cuộc bởi giác quan.

+ Khởi đầu bằng kiến thức, kết thúc bằng trí tuệ.

+ Người tu không có trí tuệ bị vướng vào ngôn ngữ, văn tự.

+ Người có trí tuệ biết dùng tri thức chuyển hóa nó để phục vụ bản thân và cộng đồng, người có tri thức Uyên bác mà không biết dùng nó để phục vụ bản thân và cộng đồng thì đó vướng vào vô minh.

+ Ví dụ: Einstein: chế tạo bom nguyên tử, sau này ông hối hận

+ Nhận diện đước 2 trạng thái thâm thì lắng yên, nhưng sống trong mộng thì tất cả buồn vui, tốt xấu, vinh nhục đều vướng mắc.

-  Trí tuệ đúng thật là tuệ giác.

-  Tuệ giác là khả năng thấy biết xuyên suốt thời gian và không gian

-  Tuệ giác có sẵn trong ta nhưng bị che khuất.

-  Muốn sử dụng kho báu này phải có tiến trình đột phá vô minh nghiệp chướng và si mê.


II. MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP TRAU DỒI:

- Nếu bảo trí tuệ là kiến thức: kiến thức và kinh nghiệm không thể phá vô minh, si mê, nghiệp chướng.

- Trí tuệ là tuệ giác: thấy biết đúng sự thật, không mong cầu, không vướng mắc. Trí tuệ là kho báu của chúng sanh, ai ai cũng có, không hề thêm, không hề bớt, không hề dơ, không hề sạch, không vì không học mà ít đi, không vì trau dồi gọt dũa mà tăng trưởng.

1. Ba phép dùi mài: (phần II phẩm Báo ân kinh Địa tâm quán)

- Tinh tấn để đối trị sự thoái chuyển tâm nguyện

- Trung kiên, nhẫn nại để thực hiện hạnh khó làm

- Rèn mài tự tâm để không thoái chuyển quyết chứng quả bồ đề

2. Chuyển thức thành trí:

Tiến trình hạ thủ chứng thực Bốn trí viên mãn là chân, báo thân, thụ dụng, pháp lạc.

a. Đại Viên Kính Trí:

Một là, Đại Viên Kính Trí: Chuyển Dị thục thức (Dị-thục dịch là “quả báo”, nay dịch là “dị thục”. Dị thục là tên chung của quả báo do y vào thiện, ác quá khứ mà được), được trí tuệ này, như tấm gương tròn lớn hiện đủ các sắc tướng. 

b. Bình Đẳng Tính Trí:

Hai là, Bình Đẳng Tính Trí: Chuyển Ngã kiến thức (Ngã kiến thức: “Ngã kiến” là “chấp ngã”: thân tâm này do 5 uẩn giả hợp, lại coi là “thường hằng”, đối với cái “phi ngã chấp”, chấp càn là “ngã” (ta), nên gọi là “ngã kiến”. Ngã kiến thức tức là thức Mạt na thứ 7. 

Thức này phân biệt, chấp thức thứ 8 làm “ngã”. Thức này luôn luôn tương ứng với si, 

kiến, mạn, ái nên gọi là “ngã kiến thức”. Chuyển thức này, nghĩa là trừ bỏ được chấp ngã, 

thành “Bình đẳng tính trí”).

c. Diệu Quán Sát Trí:

Ba là, Diệu Quán Sát Trí: Chuyển Phân biệt thức (Phân biệt thức: Tức là Ý thức thứ 6. Đối với 6 trần, các cảnh, thức này hay khởi ra sự phân biệt, gọi là “Phân biệt thức”. Chuyển thức này, nghĩa là bỏ được sự phân biệt, thành “Diệu quán sát trí”).

d. Thành Sở Tác Trí:

Bốn là, Thành Sở Tác Trí: Chuyển nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân thức được trí tuệ này, hay hiện ra hết thảy mọi hóa thân, làm cho chúng sinh thành thục thiện nghiệp. 

3. Xả phú xả thân:

Có nghĩa là xả phú cầu bần, xả thân cầu đạo. Xả tức là bỏ hết. Bỏ hết những giàu sang ở đời, bỏ cả thân mạng này để cầu đạo. 

4. Xa lìa 4 tướng (kinh Kim Cang) bất cứ chúng nào nào còn lệ thuộc vào tướng thì chưa 

phải Bồ tát

a. Nhân: (người) còn dính mắc vào thân này

b. Ngã (do không từ nào diễn dịch, không phải là ngôi thứ nhất) bản chất chấp, khả năng dính mắc của trạng thái con người, đối tượng đó là sắc thinh hương vị xúc pháp) bản ngã càng lớn khổ đau càng nhiều do cố chấp

c. Chúng sanh (chỉ chung cho các loài khác nhau trong cuộc đời). Cộng đồng hiện hữu vọng ảo biến của tâm thức

d. Thọ giả (sinh mệnh từ khi ra đến lúc chết chỉ là một giai đoạn của kiếp người). Đối tác cảm thụ, quan hệ nhiều nhân quả ngã chúng sanh. Vượt lên hết không còn dính mắc 4 tướng


III. THỰC HÀNH BỒ TÁT ĐẠO:

Muốn có được trí tuệ như Phật, chúng ta phải tu theo các pháp mà Phật đã chỉ bày. Để thực hành việc nâng tầm trí tuệ chúng ta cần lưu ý các mức độ và cách tu tập sau đây:

1. Văn huệ: Là mức độ ban đầu với cách nâng cao trí tuệ ta phải luyện khiếu quan sát để rút ra những bài học Phật pháp quý báu.

2. Tư huệ: Là cách nâng cao trí tuệ qua suy luận, có thể rất trừu tượng, song có thể được thực nghiệm kiểm chứng. Nghe thấy, quan sát một cách sáng suốt, khách quan cũng chưa đủ để thấy rõ được sự thật nằm bên trong sự vật. Phải dùng trí để suy nghiệm (Tư), xét soi tất cả mọi khía cạnh, chia sẻ sự vật để thấy được cái lõi, cái nguyên lý của nó. Văn huệ và Tư huệ giúp mở mang kiến thức trong phạm vi luân lý của mọi người, rất cơ bản là phần chủ yếu của phát triển xã hội, nhưng chỉ trong phạm vi thế tục, chưa thấu triệt tâm linh phần tu học của Bồ tát.

3. Tu huệ: Bằng thiền tập, Phật tử, Bồ tát khai thông trí tuệ, trở nên sáng suốt; có thể trực giác chứng nghiệm những chân lý ngoài phạm vi của lý trí. Đây là phương pháp trau dồi tâm trí, một nỗ lực linh động và tích cực, khơi sáng Phật tánh vốn có ở mỗi con người. Thiền tập giúp người tu vượt qua cảnh giới vật chất, tư đặt mình một nếp sống kỷ cương, kiểm soát thân tâm, tâm và trí phát triển, trở nên sáng suốt hoàn toàn.


IV. THỰC HÀNH TAM VÔ LẬU HỌC:

Biết chân chính cũng chưa đủ. Cần phải thực hành theo cái biết ấy (Tu). Biết, mà có thật hành, mới có thật nghiệm; có thật nghiệm, thật chứng mới thật là biết. Thật hành là cái lò để luyện thép trí tuệ, là viên đá để mài ngọc trí tuệ. Không thật hành thì cái biết ấy chỉ là cái suông, không đủ sức để đuổi xa tà niệm, phá tan màn vô minh, thân chứng lý vô ngã, thể ngộ pháp vô sanh. 

Muốn trau dồi trí tuệ cho nó kết quả, người Phật tử phải thật hành theo pháp tam vô lậu học: Giới, định, huệ. 

a. Giới là ngăn chận, đón giữ tà niệm, vọng tâm không cho nó phát sinh.

b. Định là phép làm cho thân tâm định tỉnh; là tham thiền nhập định. 

c. Huệ là sự soi sáng, sự phát ra ánh sáng với bao nhiêu diệu dụng của nó, làm cho kẻ tu hành thấy biết được rõ ràng thật tướng của nhân sinh, vũ trụ nguồn gốc của đau khổ, con đường đưa đến giải thoát hoàn toàn.

Khi đã biết được đúng đắn, cùng khắp, rõ ràng như thế, gọi là Chánh biến trí. Trí tuệ khi đạt đến trình độ hiểu biết này thì nghiểm nhiên trở thành Chánh đẳng Chánh giác hay 

Phật. Làm được như thế, gọi là dưỡng tánh trí tuệ của Phật mà mỗi chúng ta đều sẵn có ở 

trạng thái tiềm phục trong ta.


V. GIÁO DỤC TRONG GĐPT

1. Hướng dẫn:

- Đức Phật là bậc Đạo sư đã hoàn tât hành trình từ Phàm nhân đến Thánh quả Bồ đề

- Huynh trưởng là Hành giả Thủ chúng

- Đoàn sinh là Chúng hội Đạo tràng viên

- Hướng dẫn là phương pháp giáo dục nhằm đạt đến tuệ giác Vô thượng Bồ đề là pháp môn thù thắng. Ở đó:

Lấy thân giáo làm khởi điểm (pháp môn huân tập)

Xây dựng đức tin xa lìa tà kiến (pháp môn lý giải)

Thăng hoa nhân phẩm đạo hạnh (pháp môn quán niệm)

Thể nhập pháp giới (thiền, tịnh mật, hạ thủ) 

Ba truyền thống Tu Tập chính yếu, đó là Thiền, Tịnh và Mật; nếu vận dụng tu tập đúng pháp thì có khả năng giải hóa mọi phiền não và được giải thoát.

2. Đại chúng đồng (Văn-Tư-Tu) thăng tiến đồng bộ (phương pháp hàng đội tự trị)

Đây là phương pháp giáo dục không đặt nền tảng trên học vị tuổi tác mà là trên nhân phẩm binh đẳng. (Tiến bộ-Đột phá vô minh-Khai mở trí tuệ)

3. Kiến lập chương trình: Xây dựng giáo án theo Văn-Tư-Tu (trau đồi trí tuệ)

4. Đặt cơ sở hạ thủ:

- Giới-Định-Tuệ (trau dồi trí tuệ)

- Đồng lấy Giới-Định-Tuệ làm gốc.


VI. MỘT SỐ QUAN ĐIỂM TÂM LÝ HỌC:

1. Quan điểm của các nhà tâm lý học hiện đại:

- Những yếu tố tạo thành các thuộc tính tâm lý:

Di truyền.

Môi trường giáo dục.

Môi trường xã hội.

Sự phát triển của thể chất con người.

- Trình độ phán đoán đạo đức:

Trình độ trước đạo đức: thực hiện điều đúng, điều tốt (theo quy ước của mỗi tổ chức)

Trình độ đạo đức định ước: xem đạo đức như một cái gì ở bên ngoài (giữ kỷ luật nhà trưởng, nội quy cơ quan, luật pháp nhà nước)

Trình độ đao đức độc lập: giá trị đạo đức được chuyển vào bên trong. Phù hợp với từng giai đoạn phát triển của trí tuệ. Sự chuyển hóa lên một thời kỳ đạo đức cao hơn. Tâm lý lứa tuổi

2. Quan điểm của các nhà tâm lý học hiện nay:

Nâng cao văn hóa của dân tộc.

Tạo môi trường giáo dục tốt ở học đường và gia đình.

Chú ý đến các giai đoạn phát triển tâm sinh lý.

Chú trọng phát triển trí tuệ.

Tự giác giáo dục ở lứa tuổi thanh niên.

3. Quan điểm của phật giáo (nhân duyên)

- Nhân (đạo đức):

Nghiệp quá khứ

Chủng tử còn sanh

Sự giáo dục

- Duyên: 

Trình độ nhận thức (trí tuệ)

Thế trí (Thế trí biện thông là chướng ngại cho sự kiến tánh, vì người thế trí biện thông chấp vào thế trí của chính mình, cho là cao nhất mà không buông bỏ được, nên thành chướng ngại. Nó chen vào và nó làm cho mình dùng trí thông minh để đi đến kết luận.)

Trí bát nhã (hiểu giáo lý, tu thiền định)

- Dựa vào 5 hạnh để trao dồi đức tính:

Tự giác trau dồi là chính 

Chọn mội trường và cũng tự tạo lấy môi trường.

Nắm vững những yếu tố ảnh hưởng đến đạo đức (văn hóa văn nghệ: truyện, phim, âm nhạc..)

Trau dồi trí tuệ.

4. Một số loại đạo đức: 

trang nghiêm, tự trọng, tôn trọng, trung thực, tự lập, tự chủ

kiên nhẫn, hy sinh, lịch sự, biết ơn, lễ độ, giản dị, tiết kiệm, dũng cảm, siêng năng, danh dự, đúng giờ, lịch thiệp, chân thành

giữ chữ tín, năng động sáng tạo.

- Người có đạo đức tốt thường không khoa trương, luôn quan tâm chăm sóc và cống hiến sức mình vào việc cải thiện cuộc sống của người khác

- Trau dồi đức tính là điều cần thiết đối với huynh trưởng, bởi vì bài học về thân giáo để các đoàn sinh noi theo hết sức quan trọng.


VII. KẾT LUẬN: 

Hãy nên nhớ luôn rằng si mê là gốc của muôn tội lỗi, trí tuệ là gốc của muôn hạnh lành. 

Tóm lại, trau dồi trí tuệ, trau dồi đước tính là nhân tố rất cơ bản, rất quan trọng trong Phật giáo. Chánh kiến đứng đầu trong Bát chánh đạo, khẳng định tri thức cần có để tạo lập chính kiến đúng đắn, suy nghĩ đúng giúp ta hành động đúng, tạo nghiệp lành, chuyển kiếp thuận lợi trên bước đường tu tập mưu cầu giải thoát. 

Nâng cao năng lực trí tuệ là yêu cầu và nhiệm vụ trong tu tập của tất cả chúng sinh, Phật tử. Chính nhờ trí tuệ mà mọi người tu hành tiến đến trạng thái hoàn toàn thanh tịnh, giải thoát.

   Ngày 16 tháng 5 năm 2021

        Thiện Xuân-Đặng Thanh Danh



 

Đăng nhận xét

0 Nhận xét