LỤC ĐỘ
MỞ ĐẦU:
Lục độ, còn gọi là
Lục Độ Ba La Mật. Ba La Mật là dịch âm. Lục là sau. Độ là dịch nghĩa, chỉ cho
sự đi qua bờ kia, hay sự viên mãn đi từ cõi mê đến cõi giác, từ bờ sinh tử đến
bờ giải thoát gọi là đi qua bờ kia; trọn vẹn hạnh tự giác giác tha là viên mãn.
chữ Độ nghĩa là cứu vớt hay cứu thoát. Lục Độ là 6 phương pháp hành trì để cứu
vớt mình và cứu vớt người ( tự độ và độ
tha ) từ cõi mê đến bờ giải thoát và đắc đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh
Giác.
Lục Độ: hành trì 6
pháp này trong tinh thần không chấp trước, không phân biệt “ chủ thể “ và “ đối
tượng “. hành động trong tinh thần xả hỷ vị tha bình đẳng tuyệt đối.
NỘI DUNG:
Sáu pháp Ba La Mật
gồm có:
1.
Bố
thí Ba La Mật
2.
Trì
giới Ba L a Mật
3.
Nhẫn
nhục Ba La Mật
4.
Tinh
tấn Ba La Mật
5.
Thiền
định Ba La Mật
6.
Trí
tuệ Ba La Mật
1.- Bố thí Ba La Mật:
Bố thí là cho một cách rộng rãi, cùng khắp đến mọi
người và mọi loài. Pháp Bố Thí có 3 loại là : Tài thí, Pháp thí và Vô Úy thí.
-
Tài
thí là cho bằng tiền của, cơm ăn, áo mặc...do chính sức lao động của mình làm
ra, đó là “ Ngoại tài “. chúng ta cũng
có thể cho “ Nội tài “ như giúp người một ngày công., ẵm giúp em bé, đến cả cho
người một nụ cười tươi v.v...
-
Pháp
thí là đem sở học, sở tu của mình mà hướng dẫn, dạy dỗ mọi người cùng tu. bố
thí pháp có thể gọi là tối thắng trong các hạnh bố thí. chẳng những người nhận
pháp thí được an lạc giải thoát trong kiếp này mà nhiều kiếp liên tiếp về sau
cũng không bị đọa trong 3 đường khổ. Huynh trưởng chúng ta rất có điều kiện để
hành trì Pháp thí.
-
Vô
úy thí là cho mọi người và mọi loài cái không sợ hãi, lo âu. Bồ Tát Quán Thế Âm
là người chuyên đem đức Vô úy đến với mọi người. chúng ta phải học theo hạnh
Ngài biết đem mắt thương yêu nhìn cuộc đời, biết lắng tai nghe để cho người bớt
khổ. chúng ta chỉ cần “ Biết lắng tai nghe" thôi cũng đã làm vơi bớt nỗi lo âu, sợ hãi của kẻ
khác rồi.
Muốn có pháp để
thí, muốn có vô úy để cho, Huynh trưởng phải có nội minh,và thi hành pháp này
chúng ta nhớ phải hành trì trong tinh thần “ Ba La Mật “.
2.- Trì giới Ba La Mật:
Kinh Di Giáo Đức
Phật dạy “ Ư ngã diệt hậu, đương tôn trọng trân kính BA LA ĐỀ MỘC XOA VI SƯ,
như ám Ngộ Minh bần nhơn đắc bảo đương tri thử tức thị nhữ đẳng Đại sư “ ( sau khi ta diệt độ, các ông phải lấy giới
luật mà làm thầy, như người đi trong đêm tối mà gặp ánh sáng, như người nghèo
khó mà được của báu, các ông nên biết đó là Bậc Đại sư của các ông đó ).
Sa di luật giải
còn ví như một chiếc bè đưa người qua bể khổ. giới luật là một hàng rào kiên cố
bảo vệ phẩm hạnh người hành trì, là nền tảng cho một cuộc sống có hạnh phúc và
có chí hướng vị tha, có năng lực bảo vệ sự sống và làm đẹp cho cuộc đời.
Giới là những
nguyên tắc hướng dẫn chúng ta về hướng an lạc, giải thoát và giác ngộ. Giới là
nền tảng của hạnh phúc cá nhân, hạnh phúc gia đình và xã hội.
Về hành tướng của
giới như sau:
-
Chúng
Ưu Bà Tắc, ƯuBà Di có 5 giới
-
Chúng
Sa Di và Sa Di Ni có 10 giới
-
Chúng
Tỳ Kheo có 250 giới
-
Chúng
Tỳ Kheo Ni có 348 giới
-
Chúng
Thức Xoa Ma Na có 6 giới
Giới Thức Xoa Ma
Na là những giới điều chuẩn bị cho giới Tỳ Kheo Ni và chỉ hành trì trong vòng 2
năm trước khi thọ giới Tỳ Kheo Ni
-
Giới
Bồ Tát gồm 58 điều khoản, có 10 Giới nặng và 48 Giới nhẹ
Đây là giới luật
của Đaị thừa. người nào đã thọ giới Ưu Bà Tắc (Ưu Bà Di) giới Sa Di hoặc giới Tỳ Kheo đều có thể xin thọ thêm giới
Bồ Tát.
Giới luật Tỳ Kheo
chú trọng việc hoàn thiện cá nhân còn giới Bồ Tát chú trọng việc phát huy đức
Từ Bi.
Phật dạy: người thọ
giới phải hành trì, ôn tụng, nghiên cứu, học hỏi, mỗi tháng phải 2 lần tụng
giới để cho việc hành trì càng ngày càng sâu sắc để tạo nhân lành, tạo cơ duyên
giải thoát cho mình và người, thực hiện trong tinh thần Ba La Mật.
3.- Nhẫn nhục Ba La Mật:
Kiên trì nhẫn nại
vượt mọi khó khăn thử tháchnhằm mục đích thực hiện các thiện pháp. luôn luôn
giữ gìn tâm mình không để cho các pháp bất thiện như tham, sân, si khơi lên gọi
là nhẫn nhục Ba La Mật.
4.- Tinh tấn Ba La Mật:
Tinh cần thực hiện
và thực hiện liên tục Tứ Chánh Cần: các thiện pháp đã có ta phải làm cho phát
triển thêm lên. các thiện pháp chưa phát sinh, ta phải làm cho phát sinh. các
ác pháp đã có ta phải mau lẹ tiêu diệt. các ác pháp chưa phát sinh, ta đừng để
chúng phát sinh ra được. những gì là ác pháp? phiền não tham, sân, si, mạn
nghi...là ác pháp; phá trai phạm giới là ác pháp. những gì là thiện pháp? hành
trì bố thí trì giới, diệt trừ vô minh là thiện pháp, và chúng ta phải thực tập
trong tinh thần Ba La Mật.
5.- Thiền định Ba La Mật:
Chữ Thiền được
phiên âm từ chữ Thiền Na của tiếng Phạn. Trung Hoa dịch là Tĩnh Lự; nghĩa là
suy tư trong tình trạng tâm và cảnh đều yên tĩnh; nên cũng gọi là “ Chỉ quán “.
Chỉ là đình chỉ tâm ý, đình chỉ mọi sự suy nghĩ lung tung của tâm ý, đưa tâm ý
về chánh niệm. dùng cặp mắt “ Quán chiếu “ để nhìn sâu vào lòng sự vật. nhờ cái
thấy và cái hiểu đó mà ta đạt tới giải thoát và an lạc.
Thiền trong Phật
giáo cũng có nhiều pháp môn như : Thiền Tham Thoại Đầu, Thiền Quán, Thiền Giáo,
Tổ Sư Thiền, Như Lai Thiền, v.v... Nhiều nhưng chúng ta cũng có thể hiểu gồm 2
loại chính: Một là Như Lai Thiền gồm những kinh văn do chính Đức Phật nói để
hướng dẫn về Thiền tập như: Kinh Quán Niệm Hơi Thở ( An Ban Thu Ý Kinh ), Kinh
Bốn Lãnh Vực Quán Niệm ( Niệm Xứ Kinh
), Thiền Quán thuộc loại Thiền này. các pháp Thiền khác nhất là Tổ Sư thiền là
do kinh nghiệm tu tập và chứng đạt của các vị Thiền sư ghi chép truyền thừa
lại. Như Tông phái Thiền chủ trương “ Giáo ngoại biệt truyền, dĩ tâm ấn tâm,
bất lập văn tự “. Giáo lý Thiền tức là kinh Phật dạy, Tổ dạy, kinh thì phải khế
lý, khế cơ và phải khế thời. có lẽ có nhiều phương pháp thực tập Thiền là vậy.
đối với chương trình bậc học của chúng ta làm quen với thực tập “ Ngũ đình tâm
quán “ mà Thiền sư Thiện Hoa đã hướng dẫn trong sách “ Phật học phổ thông “. mở
đầu là bài “ Sổ tức quán “ đến Bất tịnh quán, Từ bi quán, Nhân duyên quán, và
giới Phận biệt quán ( PHPT khóa IV ),
những pháp này thuộc Thiền quán. Quán tức là Quán Niệm, tức nhìn sâu nhìn lâu
vào lòng sự vật. muốn Quán thành công phải có “ Chỉ “. chỉ quán là 2 bước đi kề
nhau, hỗ tương cho nhau không thể tách rời, trong Quán có Chỉ và ngược lại.
Chúng ta có thể nói Quán mà không Chỉ là Quán loạn, Chỉ mà không Quán là Chỉ
ngủ. muốn có tâm chỉ để quán, hành giả phải bước qua 2 bước “ Sổ tức và Tùy tức
“ (đếm hơi thở và theo hơi thở). gần
gũi hơn hết để mở đầu cho 5 pháp Quán, Ngài Thiện Hoa dạy chúng ta “ Sổ tức “.
Lục Diệu Pháp Môn cũng bắt đầu bằng “ Đếm hơi thở và theo hơi thở “ (Sổ tức, Tùy tức). Sổ tức và Tùy tức là 2
con dao sắc bén nhất để cắt đứt được “ Tâm tán loạn (sự suy nghĩ lung tung) và Thất niệm (đánh mất chánh niệm). Phép đếm hơi thở Ngài Thiện Hoa hướng dẫn rất
kỹ trong Phật học phổ thông. Theo hơi thở là hành giả để tâm quán chiếu vào hơi
thở vào và hơi thở ra của mình. Hình ảnh chiếc lưỡi cưa khi đang cưa gỗ được
đưa ra thí dụ, hành giả chỉ để ý theo dõi những chiếc răng cưa đang đi vào đi
ra khúc gỗ nơi miệng đường cưa, chứ không theo những chiếc răng cưa đi vào
trong thân gỗ, hoặc đi ra ngoài xa thân cây gỗ. nhờ thành công 2 bước Sổ tức và
Tùy tức hành giả sẽ có được “ Chỉ “ tức đình chỉ tâm ý, đóng kín 6 căn không
còn bị 6 trần chi phối. có được “ Chỉ “ là một thành công rất lớn trên bước
đường tu tập Thiền định. Vì tâm “ Chỉ “ là tâm “ Định “, có nghĩa là hành giả
đã nhập được vào định. sau “ Chỉ “ đến “ Quán “ tức quán sát vạn pháp. vạn pháp
có nhiều nhưng kinh “ Bốn lãnh vực quán niệm “ phân biệt có 4 lãnh vực là: Lãnh
vực thân thể, lãnh vực cảm thọ, lãnh vực tâm ý, và lãnh vực đối tượng của tâm ý
tức là pháp. hành giả đã an trú trong định (Chỉ)
nhìn thấy và thực chứng về thực tướng, thực tánh của vạn pháp: thấy được thể
mọi pháp đều không, không sanh không diệt, không dơ cũng không sạch, không thêm
cũng không bớt. đến đây hành giả đã “ Trở lại nguồn tâm “ (Hoàn) và vượt thoát mọi ý niệm, mọi phân biệt (Tịnh) chứng đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
Đạo Phật mệnh danh
là “ Đạo thiền “ một Phật tử mà không biết thực tập “ Thiền quán “ thì không
phải là Phật tử. Hay nói cách khác : Muốn có trí tuệ thì phải qua thiền định ,
có định mới có được tuệ giác.
6.- Trí tuệ Ba La Mật:
Chữ “ Trí “ có
nghĩa là quyền đoán, “ Tuệ “ có nghĩa gián trạch. Tự điển Phật học Trung hoa
định nghĩa: “ Trí là hiểu biết sự thật tương đối, Tuệ là hiểu biết sự thật
tuyệt đối“
Tuệ là thể tánh
sáng suốt, trí là cái diệu dụng xét soi thực tại. trí tuệ Ba La Mật là thể tánh
sáng suốt có khả năng soi sáng sự vật
một cách thấu đáo tinh tường không sai lầm.
Phật dạy có rất nhiều pháp môn tu để đạt được trí
tuệ nhưng không ngoài thiền định. Giới, Định, Tuệ 3 môn học vô lậu. luật
dạy: “ Nhơn giới sanh định, nhơn định
phát tuệ “. an trú trong giới để hành trì thiền định, an trú trong định trí tuệ
sẽ phát. ba môn học này hỗ tương nhau mà thành tựu viên mãn.
Trí tuệ còn phát
sinh từ ba môn học và thực tập "Văn, Tư, Tu"
Văn tuệ : Do nghe
giáo pháp, thực hành quán chiếu thậý được thực tính của vạn pháp mà thành tựu
văn tuệ.
Tư tuệ : Tư duy và
quán chiếu đúng chánh pháp (chánh tư duy) trọn nên tư tuệ.
Tu tuệ : Chúng ta
có thể nói, thực hành nghiêm mật "Bát chánh đạo" tức là tu, và được
như vậy trí tuệ sẽ phát, đó là tu tuệ.
Giáo lý duy thức
còn hướng dẫn chúng ta tu tập qua phương pháp "Huân tập" để chuyển
tám thức thành bốn trí :
- Đại viên cãnh
trí : Khi tất cả các chủng tử đã được chuyển từ bất tịnh sang tịnh, thì thức
"A lại gia" sẽ được chuyển thành "Đại viên cảnh trí". Và
vượt thoát ra ngoài các chướng ngại vật của phiền não sở tri gây ra.
- Bình đẳng tánh
trí : Khi thức thứ bảy "Mạt na thức" không còn thấy chấp trì A lại
gia làm đối tượng. Là kiến vô thức về sự tồn tại của ngã đã bị triệt tiêu, thì
Mạt na thức chuyển thành "Bình đẳng tánh trí". Diệu dụng của tuệ giác
này là khả năng thấy được tính cách bình đẳng và đại hòa của đại pháp bao la để
có thể hóa hiện tự do trong công tác độ sinh.
- Diệu quan sát
trí : Ý thức đúng vai trò quan trọng nhất trên đường đi đến giác ngộ, nó phải
trải qua rất nhiều công phu tu tập, và chuyển thành "Diệu quan sát
trí". Diệu dụng của trí này là nhìn thấu được vào tâm lý của mọi người và
mọi loài, biết được mọi nhu yếu, mọi vấn đề, mọi khó khăn của họ, cũng là những
giáo lý và phương pháp thích hợp để giúp họ tự độ.
- Thành sở tác trí
: Tiền ngũ thức tức là năm thức cảm giác sẽ được chuyển thành "Thành sở
tác trí". Diệu dụng của trí này không có biên giới, nó có thể thực hiện được
những pháp mầu nhiệm (thiên nhãn, thiên nhĩ thông…) để giúp ta trong công tác
độ sinh.
III. KẾT LUẬN :
Qua nhân cách hoạt
động của Huynh trưởng Gia Đình PhậtTử dù muốn hay không chúng ta cũng phải nhìn
nhận là chúng ta đang tu tập theo sáu pháp Ba la Mật, tập tành theo hạnh nguyện
của chư vị Bồ tát.
Pháp Bố thí gồm
tài thí, Pháp thí, và Vô úy thí, Huynh trưởng chúng ta mặc dù không mấy ai,
giàu có về tài vật, nhưng tấm lòng thì không thiếu nên có thể làm được. Giới
thì bắt buộc ai cũng phải hành trì. Ngoài các giới (5 giới, Bồ tát giới, bát quan trai giới, Thập thiện giới mà người tu tại gia giữ), chúng ta còn 5
điều luật, còn có nội quy và quy chế của
tổ chức, chúng ta phải bảo vệ và thực hành, nghĩa là chúng ta phải làm, phải
nghiên cứu và học hỏi để mỗi gày một thêm sâu sắc. Nhẫn nhục, tinh tấn là hai
đức tính mà Huynh trưởng phải có Thiền định là môn ruột của giáo lý đạo Phật.
Pháp môn Thiền của đạo Phật kể cũng khá
nhiều, nhưng chúng ta được quyền chọn lựa, kinh "Quán niệm hơi thở và kinh Niệm xứ" rất thích hợp với sinh hoạt
thực tại và với Huynh trưởng chúng ta (là
những người có lắm gia duyên). Kinh dạy chúng ta, ngay trong bốn oai nghi,
trong lúc làm việc, ăn uống và lái xe đều có thể thực tập Thiền quán như Quán
niệm hơi thở và Bốn lãnh vực quán niệm. Trí tuệ là điểm tất yếu phải có khi
chúng ta đã thực tập tốt năm phần trên./-


0 Nhận xét