Header Ads Widget

Responsive Advertisement

Bài 4 : DUY THỨC HỌC GIẢN YẾU

 Bài 4 :

DUY THỨC HỌC GIẢN YẾU

 


A.- DẪN NHẬP :

Giáo lý đạo Phật được kết tập trong 3 tạng : Tạng kinh, Tạng luật, Tạng luận. Kinh và luật do chính đức Thế Tôn thuyết giáo. Tạng luận là sau này các hàng đệ tử uyên bác của đức Thế Tôn có thực tu thực chứng soạn giải nhằm triển khai những nghĩa lý sâu xa vi diệu của lời Phật dạy để người học Phật được sáng tỏ. Duy thức là một trong các bộ tạng luận nầy.

Nhưng hầu hết các học giả nghiên cứu Phật giáo cũng như những vị học Phật, tu Phật đều cho Duy thức học là khó tiếp thu nhất, vì nó vừa đi sâu vào lảnh vực tâm lý vừa triển khai khía cạnh triết học, đó là nhân sinh quan, vũ trụ quan Phật giáo. Trong Duy thức học lại có nhiều từ ngữ Phật giáo chuyên môn mà xa lạ chưa được gặp đến trong những đề tài giáo lý trước đây nên rất khó nhớ.

Trong chương trình bậc Định, chỉ là bài học "giản yếu" để giúp anh chị em học viên dễ dàng tiếp thu khi học về Duy thức ở bậc Lực. Vì là "giản" nên chỉ thu gọn chưa đào sâu, chưa đi vào những ngõ ngách tỉ mỉ (sẽ học ở bậc Lực) nhưng lại là "yếu" nên những điểm mấu chốt, những điểm cơ bản của Duy thức học được trình bày rõ nét ở đây. Có thế, khi học về Duy thức ở bậc Lực cũng như khi tham khảo thêm về tài liệu Duy thức khác, anh chị em mới dễ dàng nắm bắt.

B.- NỘI DUNG CHÍNH :

I.- DUY THỨC HỌC LÀ GÌ :

1.- Định danh : Thức, tiếng Phạn là Vijnana hay vijnanapti. Duy thức là vijnavada hay vijnanamatra. Vada hay matra nghĩa là chỉ có, tức là "duy". Vijnana nghĩa là thức. Đúng ra, tiền từ "vi" có nghĩa là phân biệt, xét đoán, nhận thức (bất cứ chữ nào có tiền từ "vi" đều có nghĩa như vậy). Vijnana khi ghép sau một từ chính khác thì dịch là thức (ví dụ : alayavijnana là tàng thức), nhưng vijnapti thì có nghĩa là thức mà cũng có nghĩa là biểu hiện. Vậy vijnapti có nghĩa là cái thức được phân biệt khi biểu hiện ra. Vậy, Vijnanavada hay vijnanamatra dịch cho đầy đủ là : chỉ có cái "thức" được biểu hiện ra. Vì thế ngày nay trong giới nghiên cứu Phật học hay dùng từ "biểu biệt" (biểu : biểu hiện, biệt : phân biệt). Cho nên đã có tài liệu dùng từ "Duy biểu học" thay vì "Duy thức học".

2.- Duy thức học là gì ?

Khi đã được định danh rõ ràng thì chúng ta mới có cơ sở để hiểu được Duy thức học là gì ?

Duy thức học là môn nghiên cứu tìm hiểu nguyên ủy của hiện tượng vạn pháp để xác lập một luận cứ cho người học hiểu được tự tánh và biểu tượng của vạn pháp. Duy thức học là phương tiện chỉ nam, hướng dẫn phương pháp nhận thức về mặt cụ thể của vạn pháp và khái niệm tư duy trừu tượng. Cho nên Duy thức học còn gọi là "Pháp tướng duy thức học".

3.- Đối tượng của Duy thức học :

Người ta thường cho rằng "Thức" (vijnana) là sự hiểu biết, là sự lĩnh hội hay chính là tâm, là ý thức. Nhưng khi dùng những từ ấy để giải thích về "thức" thì ắt hẳn có khái niệm rằng "Thức" là chủ thể của nhận thức, chủ thể của tư duy, là một thực thể tâm lý tồn tại độc lập ngoài đối tượng. Nhưng Duy thức học xác định rằng một thực thể tâm lý không thể tồn tại độc lập với đối tượng của nó. "Thức" bao gồm cả chủ thể nhận thức lẫn đối tượng nhận thức (đây không phải là nền tảng của một khách quan duy tâm luận). (1) Nhưng khi phân tích nghiên cứu thì bao giờ cũng đặt vấn đề : nhận thức là nhận thức một cái gì ? Muốn đi sâu vào Duy thức học chúng ta phải nắm vững điều căn bản này.

Đứng ngắm dòng sông Hương trong một buổi hoàng hôn yên tĩnh ta cảm nhận mình đang hòa nhập trong cái yên tĩnh ấy, vậy có phải chủ thể nhận thức (nhận biết của ta) và đối tượng nhận thức (cảnh vật) là một đó sao ? Cũng có lúc đối tượng nhận thức cũng chính là chủ thể nhận thức, khi ta tự nhận xét cái tâm đang diễn biến của mình. Có khi nhìn một chiếc vòng ngọc bích trong xanh óng ả, vô cùng quý giá, ta lại khởi tâm tham muốn, vậy đối tượng nhận thức (chiếc vòng) có còn là khách thể nữa không ? ( Nó đã duyên với anh Mạt na của ta rồi đấy. Khi nói đến mạt na thức chúng ta sẽ rõ). Vì vậy chủ thể hay khách thể là đặt ra trong quá trình nghiên cứu cho dễ dàng mà thôi chứ không có chủ thể, khách thể nào độc lập ngoài nhau.

Đối tượng của Duy thức học lại không phải là chân như (tathata) vì Duy thức học là một học phái được mệnh danh là "Pháp tướng tông" (Darmala ksana), chuyên khảo sát thực tại trên phương diện hiện tượng. Tuy vậy, Duy thức và Pháp tướng không phải là một, vì Duy thức là pháp tướng nhưng pháp tướng không hẳn là Duy thức. Chúng ta có thể minh họa bằng phép tính tập hợp sau đây thì thấy rõ

    A   =    a, b, c, d, e

(Pháp tướng)                                                                   B

    B   =    c, d , e                                                   Duy thức

(Duy thức)                                                A   a,b,       c,d,e,

         B    A (Duy thức thuộc Pháp tướng)   Pháp tướng                            

Và a, b      A (a, b  thuộc Pháp tướng)

Mà a,. b     B (a, b không thuộc Duy thức)         

Chúng ta cũng thấy rằng : Trong Duy thức Tam thập tụng (Trimsikàvijnaptikàrikà) ngài Thế Thân không có chủ ý phân tích khái niệm chân như (tathata) nhưng Ngài vẫn nói đến chân như như là bản thể chân thực của thức. Phương pháp luận của Ngài là đi từ hiện tượng đến bản thể , từ "tướng" đến "tánh". Bắt đầu bằng sự phân tích các thức, xử dụng khái niệm và ngôn từ nhưng đến tận cùng của thế giới hiện tượng thì Ngài lại đả phá và tiêu diệt hoàn toàn mọi phân tích, khái niêm và ngôn từ để mở đường cho sự hiển lộ của Chân đế, tức là thực tính của vạn pháp, giúp hành giả thoát ra ngoàii thế giới khái niệm để nhìn vào thế giới chân thực của tuyệt đối.

II.- NGUỒN GỐC DUY THỨC HỌC :

Nguồn gốc của Duy thức có thể tìm thấy trong giáo lý Phật giáo nguyên thủy, trong các kinh A hàm về các khuynh hướng vũ trụ quan.

Khoảng thế kỷ thứ ba ở bắc Thiên trúc có ngài Thế Thân (Vasubandhu), khi mới xuất gia, theo phái Hữu bộ (Tiểu thừa) sáng tác bộ luận "A Tỳ Đạt ma câu xá luận (Abhidharmakosasasta). Bộ luận này soạn phỏng theo A tỳ đạt ma Đại tỳ bà sa (Abhidhammatha mahavibhasa) nhưng Ngài gạn lọc lại chỉ thu thập nhưng điều mà Ngài cho là chính xác chứ không hoàn toàn theo phái Hữu bộ.

Sau theo anh là Vô Trước (Asanga) nghiên cứu Thượng tọa bộ (Đại thừa), sáng tác truyền bá Duy thức học, dựa vào các kinh : Nhiếp Đại thừa luận (Mahayanasangra -hasastra) của Vô Trước và các kinh Nhập Lăng già (Lankàvatàra - sùtra), Giải thân mật (Samdhinirmocana - Sùtra), Luận Du gia sư địa (Yogacaryàbhùmi - sastra) của Di Lặc (Maitreya) và Vô Trước (Asanga).

Hiện nay các tài liệu của ngài Thế Thân thường được giảng dạy ở các Phật học viện và tu viện là :

-       A tỳ đạt ma câu xá luận.

-       Duy thức tam thập tụng.

-       Duy thức nhị thập tụng.

-       Đại thừa bách pháp luận.

Ở Trung hoa thì vào thế kỷ thứ bảy có Huyền Trang qua Ấn độ học với thầy Giơii Hiền (Silabhadra) và thấy Hộ Pháp (Dharmapàla) (2 trong 10 vị luận sư về Duy thức nổi tiếng thời bấy giờ), lúc trở về Ngài soạn bộ chú giải "Thành Duy thức luận" (Hòa thượng Thiện Siêu đã dịch ra Việt văn). Ngoài ra Ngài và các môn đệ viết rất nhiều tác phẩm khác về Duy thức. Quyển Bát thức quy cũ tụng của Ngài được xem là phổ cập hơn cả.

III.- NỘI DUNG CHỦ YẾU CỦA DUY THỨC HỌC :

Trước đây ta đã hiểu rõ : tất cả vạn pháp đều vô ngã, không có cái gì tự nó hình thành, tồn tại, độc lập bất biến, mà tất cả đều do tương quan duyên sinh (đã học trong bài "Vô thường - vô ngã -nhân duyên). Dù đã thông hiểu nhưng có lẽ cũng chưa tỏ rạng. Qua luận giải của Duy thức học sẽ làm cho người học vỡ lẽ : "Vô ngã là chân lý của vũ trụ, nhân sinh quan trong đạo Phật".

Trong các tác phẩm về duy thức của Ngài Thế Thân thì ĐẠI THỪA BÁCH PHÁP LUẬN được nhiều vị tôn túc uyên bác xem như là "chìa khóa vàng để mở cửa đi vào tòa nhà Duy thức học".

Mở đầu, bộ luận giải đã trực khởi đi vào vấn đề :

Như lời Thế Tôn dạy : "tất cả các pháp đều vô ngã". Vậy cái gì là "tất cả các pháp?" và sao gọi là "vô ngã"

Nguyên văn chữ hán của Ngài Huyền Trang dịch :

Như Thế tôn ngôn :

"Nhứt thế pháp vô ngã"

Hà đẳng nhứt thế pháp

Vân hà vi vô ngã ?

Luận chủ muốn nói cho chúng ta rõ : luận Đại thừa bách pháp là hoàn toàn dựa trên lời dạy của Đức Phật mà triển khai. Trước hết, giải thích : tất cả các pháp là gì.

Tất cả các pháp nhiều vô kể (mọi vật, mọi sự từ vật chất đến tinh thần, từ nhỏ nhiệm vô cùng như phân tử, điện tử, siêu vi cho đến lớn lao vô hạn như thái dương hệ, các hành tinh bao la vũ trụ, từ vô tình đến hữu tình, từ hữu vi đến vô vi) nhưng có thể hệ thống lại trong 100 pháp, chia làm 5 loại :

1.    Tâm pháp có : 8 móm.

2.    Tâm sở hữu pháp có : 51 món

3.    Sắc pháp có : 11 món

4.    4. Tâm bất tương ưng hành pháp có : 24 món

5.    Vô vi pháp có : 6 món

1.- Tâm pháp (còn gọi là tâm vương) có 8 món là :

1.    Nhãn thức (cái nhận biết của mắt)

2.    Nhĩ thức (cái nhận biết của tai)

3.    Tỹ thức (cái nhận biết của mũi)

4.    Thiệt thức (cái nhận biết của lưỡi)

5.    Thân thức (cái nhận biết của thân)

6.    Ý thức (cái nhận biết của ý)

7.    Mạt na thức (thức thứ 7 - sẽ giải thích sau)

8.    A lại gia thức (thức thứ 8 - sẽ giải thích sau).

2.- Tâm sở hữu pháp (gọi tắt là tâm sở) có 51 món phân làm 6 loại :

1.    Biến hành - có 5 : Xúc, tác ý, thọ,tưởng, tư.

2.    Biệt cảnh : - - có 5 : Dục, thắng giải, niệm, định, huệ.

3.    Thiện - có 11 : Tín, tàm, quý, vô tham, vô sân, vô si, tinh tấn, khinh an, bất phóng dật, hành xả, bất hại.

4.    Căn bản phiền não (2) có 6 : Tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến (ác kiến lại chia làm 5 loại : Thân kiến, biên kiên, tà kiến, kiến thủ, giới cấm thủ).

5.    Tùy phiền não (2) có 20 món chia 3 loại :

a./ Tiểu tùy - có 10 : phẩn, hận, phú, não, tật, xan, cuống, siễm, hại, kiêu.

b./- Trung tùy - có 2 : Vô tàm, vô quí.

c./- Đại tùy - có 8 : Trạo cử, hôn trầm, bất tín, giãi đãi, phóng dật, thất niệm, tán loạn, bất chánh tri.

6.    Bất định - có 4 : Hối, miên, tầm, tư.

3.- Sắc pháp - có 11 món : chia ra 5 căn và 6 trần

-         Năm căn : Nhãn căn, nhĩ căn, tỹ căn, thiệt căn, thân căn.

-         Sáu trần : Sắc trần, thanh trần, hương trần, vị trần, xúc trần, pháp trần.

4.- Tâm bất tương ưng hành hpáp (gọi tắt là "Bất tương ưng hành") - có 24 món : Đắc, mạng căn, chúng đồng phận, dị sanh tánh, vô tưởng định, diệt tận định, vô tưởng báo, danh thân, cú thân, văn thân, sanh, trụ, lão, vô thường, lưu chuyển, định dị, tương ưng, thế tốc, thứ đệ, thời, phương, số, hòa hiệp, bất hòa hiệp.

5.- Vô vi pháp - có 6 món : Hư không vô vi, trạch diệt vô vi, phú trach diệt vô vi, bất động diệt vô vi, tưởng thọ diệt vô vi, chân như vô vi.

(Sẽ dược giảng tỉ mỉ trong Duy thức học ở chương trình bậc Lực)

Tuy phân chia như vậy nhưng đều có tác dộng qua lại, tương quan tương duyên với nhau. Cũng như nói thân thể người ta chia ra làm 3 phần : Đầu, mình và chân tay; Đầu có  . . ., mình có  . . ., tay chân có  . . . , nhưng đều có liên quan chặt chẽ, không thể tách rời cái đầu ra khỏi thân mình, cái miệng lại cũng liên quan đến cái tay, nhờ cái miệng đưa thức ăn vào bộ máy tiêu hóa rồi nhờ bộ máy tiêu hóa biến thức ăn thành chất dinh dưỡng, có chất dinh dưỡng nuôi cơ thể, tay mới làm việc được. Cứ vậy, tương quan mật thiết với nhau không thể có cái gì là độc lập.

Từ "Tâm" thì rất trừu tượng. Nó là tấm lòng ? nó là tình cảm ? nó là ý thức ? nó là tinh thần ? theo đạo Phật, tất cả đều chưa đúng nghĩa từ "tâm". Không có ngôn từ để diễn giải - mà chỉ nhận biết được qua biểu hiện, biến hành và công năng. Cái tích chứa các chủng tử (mầm giống Thiện, Ác) nơi các chủng tử nẩy mầm, phát triển, cái mà có công năng duyên với cảnh để phân biệt, nhận biết v.v. . . là Tâm. Cho nên tấm lòng, tình cảm, tinh thần, đều thuộc về tâm nhưng tâm không phải chỉ là những thứ đó.

Ngài Thích Thiện Hoa trong "Duy thức nhập môn" cũng có phân tích cho chúng ta rõ : "y theo đặc tính của mỗi thức thì thức thứ tám về nghĩa tích tập thù thắng nên gọi là "Tâm"; thức thứ bảy về nghĩa sanh diệt tương tục thù thắng nên gọi là "ý"; và 6 thức trước về nghĩa phân biệt thù thắng nên gọi là "Thức".

Vậy Tâm đúng theo Phật giáo là A lại gia  chứ không phải là ý thức, tiềm thức hay một số hiện tượng tâm lý mà tâm lý học tây phương góp nhặt và mệnh danh là tâm hồn.

Chúng ta cũng cần lưu ý : Thức thứ bảy như vừa nói trên thì còn gọi là "ý" (không có từ "Thức " ở trước), chứ không phải là "ý thức".

Ý thức : nương ý căn, khởi tác dụng phân biệt pháp trần. Chúng ta cũng cần nhận rõ ở đây ý căn khác với 5 căn (nhãn, nhỉ, tỹ, thiệt, thân) ví dụ : qua nhãn căn nhìn đối tượng là cái hoa, thấy cái hoa, thấy ấy là nhãn thức, nhưng phân biệt được lớn nhỏ, đẹp xấu, . . . là ý thức. Cả 5 thức trước và ý thức liên hệ mật thiết với nhau về sinh lý và vật lý, không thể hình thành tồn tại ngoài sinh lý và vật lý. Ý thức là động cơ lớn nhất phát sinh hành động (thân) và lời nói (khẩu). Chính ý thức là chủ nhân tạo nghiệp đưa đẩy con người vào sinh tử luân hồi, nhưng cũng chính ý thức đưa ta đến giải thoát giác ngộ.

Mạt na thức : thức này có công năng đưa các pháp hiện hành vào tàng thức (A lại gia thức) và thúc đẩy các pháp chủng tử phát khởi hiện hành. Thức này chỉ duyên với kiến phần của A lại gia trở lại nhận A lại gia là đối tượng của mình, chỉ có công dụng tợ hiện tượng và là một trực giác sai lầm chấp ngã. Mạt na như một hiện tượng đen tối ngăn che liên tục không gián đoạn và sai sử ý thức. Mạt na có tính tư lương (suy tư, lo nghĩ) còn ý thức lại có tính phân biệt, nhận biết. Mạt na thường biểu hiện cùng bốn phiền não là : ngã ái (quan niệm sai lầm về ngã), ngã kiến (hiểu biết, nhận thức sai lầm về ngã, cho là có thật ngã), ngã mạn (thái độ kiêu căng cho rằng : ta là hơn cả), ngã ái (yêu cái tôi (I) cái của tôi (mine) và cái tự ngã của tôi (myself). Mạt na luôn luôn sinh khởi nên luôn luôn chấp ngã cho đến khi đạt quả vị A la hán thì nó không còn hiện hữu.

A lại gia thức : cũng gọi là "tàng thức". Vì nó có công năng tích chứa chủng tử các pháp. "Thức" là thể mà "chứa" là dụng. Nó vừa là "năng tàng" (chủ thể dung chứa) vừa là "sở tàng" (đối tượng được dung chứa hay của sự dung chứa). Đối tượng của A lại gia thức lại là cả vật chất, cả tinh thần (ở dục giới và sắc giới) ở vô sắc giới thì chỉ là tinh thần và có khả năng phát khởi hiện tượng từ chủng tử thành hiện hành theo nguyên tắc nhân duyên sanh và nghiệp báo. Có thể tạm mượn từ "tiềm thức", "vô thức" của tâm lý học để hiểu được A lai gia thức vì những khái niệm ấy rất gần với khái niệm A lại gia.

Phân tích và hệ thống hóa các pháp và trình bày sự tác dụng của các thức (sẽ đuợc đi sâu thêm ở Duy thức học trong bậc Lực), Luận chủ cho chúng ta thấy rõ : Hiện hữu của thế giới vô vàn sự vật, hiện tượng sai biệt, đa thù nầy đều là sản phẩm tạo tác từ tâm thức, nó do thức biến hiện thành thiên hình vạn trạng và cái gọi là những tính cách đặc thù của thế giới thực tại khách quan nầy, thực chất là tự tính giả lập, được giả định bởi công ước đơn thuần cho nên chỉ là một loại thực tại ảo, do tri thức thường nghiệm tạo nên, nó là một loại tri giác sai lầm và giới hạn của tư duy hữu ngã. Vì tính chất sai lầm và giới hạn của tri thức thường nghiệm mà hiện hữu, được xem như là chân lý công ước (conventionaltruth) tức là chân lý của những kẻ vô minh chưa thoát ly khỏi biên kiến của sự phân biệt lưỡng nguyên "có" và "không".

Chừng đó cũng đủ cho chúng ta thấy "Tất cả các pháp đều "vô ngã", chỉ do vọng tưởng của "thức" mà có.

Phần cuối Luận chủ chỉ cần phân loại "vô ngã" và kết luận lại mà thôi :

Vô ngã có hai : Nhân vô ngã và pháp vô ngã.

- Người đời chấp thân nầy thật có, tức là chấp "nhân ngã" chấp vạn vật bên ngoài thật có, tức là "pháp ngã". Do chấp ngã nên sanh ra tham, sân, si tạo ra các nghiệp, luân hồi trong sáu nẻo. Bằng trí Bát nhã đức Phật đã thấy rõ "Tất cả các pháp đều không có ngã" (Học kỹ lại bài vô thường - vô ngã- không, ở bậc Trì). Tất cả các pháp là bao trùm tất cả, như đã trình bày ở trên. Thân của chúng ta đây không thật có, loài hữu tình không thật có gọi là "nhân vô ngã" Loài vô tình không thật có gọi là "Pháp vô ngã"

Trong "Duy thức tam thập tụng" (30 bài tụng về Duy thức) thì năm bài cuối cùng trình bày năm cấp độ tu chứng Tuệ giác tức thể nhập thực tại vô ngã - Niết bàn tối thượng. Đây là con đường thiền quán thực tiển.

C.- KẾT LUẬN :

"Nhất thế pháp vô ngã" chúng ta đã thật sự thấu suốt qua bài học VÔ THƯỜNG - VÔ NGÃ - KHÔNG ở bậc Trì, giờ đây qua luận giải của Duy thức chúng ta càng vỡ lẽ, tỏ tường rồi, nhưng cần thực tập quán chiếu hằng ngày mới có thể "ngộ" vì : "Cho đến khi nào đối tượng (sở duyên) và trí năng (năng duyên) đều được buông xả thì lúc đó mới xa lìa hai sự chấp thủ và an trú trong Duy thức"

Nhược thời ư sở duyên

Trí đô vô sở đắc

Nhỉ thời trụ duy thức

Ly nhị thủ tướng cố

(nguyên văn chữ Hán bài tụng thứ 28 của Duy thức Tam thập tụng)

 

Ghi chú :

(1)  : Đây là điểm mấu chốt, Duy thức khác với Duy vật và Duy tâm

: Có tài liệu gộp 4 và 5 vào một, mệnh danh "tâm sở bất thiện"

Đăng nhận xét

0 Nhận xét