Bài 3 :
MƯỜI
HAI NHÂN DUYÊN
A)
DẪN NHẬP :
Mười hai nhân
duyên (Thập nhị nhân duyên) là cách
trình bày đặc biệt của giáo lý Duyên khởi (Paticcasamuppada)
(1). Giáo lý này do chính Bồ tát Tất Đạt Đa (Siddhartha) thể chứng dưới cội bồ đề sau 49 ngày tư duy thiền định,
từ đó Ngài trở thành một bậc Giác ngộ hoàn toàn.
Mười hai nhân
duyên, hay Duyên khởi, là một giáo lý rất đặc thù, là điểm xác định sự khác
biệt giữa Phật giáo với các tôn giáo khác. Nó là cốt lõi của nhân sinh quan Phật
giáo, được đề cập nhất quán trong tất cả các kinh điển. Nhận thức rõ về giáo lý
mười hai nhân duyên sẽ giúp người học Phật hiểu cặn kẽ hơn về các vấn đề khác
như nghiệp, luân hồi tái sinh, nhân quả... đồng thời gợi mở một hướng sống tích
cực cho mỗi cá nhân trong hiện tại.
B)
NỘI DUNG :
I/ Định nghĩa :
1-
Thế nào là nhân duyên ?
Nhân là yếu tố
quyết định, điều kiện chính làm sinh khởi, có mặt của một hiện hữu. Duyên là
điều kiện hổ trợ, tác động làm cho nhân sinh khởi. Ví dụ : hạt lúa là nhân của cây lúa ; các yếu tố như đất, độ ẩm, ánh sáng
mặt trời, người gieo... là duyên để hạt lúa (nhân) nảy mầm phát triển thành cây
lúa. Mối quan hệ nhân - duyên thực ra phức tạp và vi tế hơn nhiều, đặc biệt
là trong thế giới tâm thức ; và, nhân duyên nói cho đủ là nhân - duyên - quả.
"Nhân
duyên" trong "mười hai nhân duyên" hàm ý nghĩa "nhân duyên
khởi" : sự nương tựa vào nhau mà sinh khởi, sự tùy thuộc phát sinh, nói
chính xác là "do cái này có mặt, cái kia có mặt ; do cái này không có mặt,
cái kia không có mặt ; do cái này sinh, cái kia sinh ; do cái này diệt, cái kia
diệt".
2-
Mười hai nhân duyên là gì ?
Trong kinh Tương
Ưng Bộ II (Samyutta Nikàya), Đức Phật
đã thuyết minh về mười hai nhân duyên (Duyên
khởi) như sau : "Do vô minh, có
hành sinh ; do hành, có thức sinh; do thức, có danh sắc sinh ; do danh sắc, có
lục nhập sinh ; do lục nhập, có xúc sinh ; do xúc, có ái sinh ; do ái, có thủ
sinh ; do thủ, có hữu sinh ; do hữu, có sinh sinh ; do sinh, có lão tử, sầu, bi, khỗ, ưu, não sinh, hay toàn
bộ khổ uẩn sinh. Đây gọi là Duyên khởi".
"Do đoạn diệt (2) tham ái, vô minh một cách
hoàn toàn, hành diệt ; do hành diệt nên thức diệt ; do thức diệt nên danh sắc
diệt ; ... ; do sinh diệt nên lão tử, sầu bi, khỗ, ưu, não diệt. Như vậy là
toàn bộ khỗ uẩn đoạn diệt. Này các Tỷ kheo, như vậy gọi là đoạn diệt".
(tr 1-2)
Mười hai nhân
duyên được Đức Phật định nghĩa gồm hai chiều hướng : chiều hướng sinh khởi (còn gọi là lưu chuyển : do vô minh, hành
sinh...) và chiều hướng đoạn diệt (còn
gọi là hoàn diệt : do đoạn diệt tham ái, vô minh một cách hoàn toàn nên hành
diệt...). Khi mười hai nhân duyên được thành lập (tập khởi), nghĩa là năm uẩn (3) tập khởi, và đây là chiều hướng của
khổ đau, luân hồi. Khi mười hai mắc xích này bị phá vỡ (đoạn diệt) thì cấu trúc năm uẩn cũng tan rã, và đây là con đường
của an lạc, giải thoát. Năm uẩn chính là cấu trúc của con người và cuộc đời. Sự
hiện hữu của con người tự nó nói lên mười hai nhân duyên đang vận hành theo
chiều tập khởi.
Theo cách trình
bày trên, vô minh được xem như là căn nguyên, nguồn cội, cốt lõi của mười hai
nhân duyên. Tuy nhiên, không nên hiểu nhầm vô minh là nguyên nhân đầu tiên của
chuổi liên kết đó. Bởi Đức Phật dạy, vô minh cũng do nhân duyên sinh, là duyên
khởi. Khi có nhân duyên (tích cực)
thì vô minh cũng sẽ chuyển hóa thành trí, tuệ ; đây là ý nghĩa "vô minh
diệt, minh sinh".
Cũng cần lưu ý đôi
chút về số mục (12 chi phần) của dạng
thức Duyên khởi này. Định nghĩa được nêu trên, trích từ kinh Trung Bộ II, là
một cách trình bày tiêu biểu nhất, gồm đầy đủ cả 12 chi phần. Trong một số bản
kinh khác, như kinh Đại Duyên (Trường Bộ
kinh II), kinh Đại Bổn Duyên (Trường
A Hàm I)... Đức Phật trình bày chỉ gồm 5, 8, 10, 11 và đầy đủ nhất là 12
chi phần. Vấn đề này được các nhà nghiên cứu Phật học uyên thâm phân tích rất
tỉ mỉ, và tất cả đều thống nhất, số mục 12 chi phần được xác định qua nội dung
thiền quán của Đức Phật dưới cội bồ đề. Đây là dạng thức chính xác, đầy đủ và
phù hợp nhất với tư duy của con người. Sự sai khác về số mục các chi phần chỉ
là thể hiện phương pháp giáo hóa linh động của Đức Phật, Ngài tùy thuộc vào
trình độ của người nghe mà nói vắn tắt hoặc đầy đủ. Điều này sẽ được làm sáng
tỏ ở phần nói về sự vận hành của mười hai nhân duyên.
Đối tượng nghe
giáo lý mười hai nhân duyên là con người, vì nặng về tâm luyến ái và chấp thủ,
nên Đức Phật luôn nhấn mạnh đến các chi phần này, đặc biệt là trong chiều
hướng, con đường đoạn diệt - giải thoát. Khi ái (hay bất luận một chi phần nào)
sinh khởi, lập tức cấu trúc 12 nhân duyên hình thành ; và ngược lại, khi chi
phần ái hay thủ (hoặc một chi phần bất kỳ)
đoạn diệt, lập tức chuổi mắc xích 12 nhân duyên tan rã. Đây cũng là ý nghĩa, mà
trong luận Đại Tỳ Bà Sa ghi rằng, nói Duyên khởi có một chi phần cũng được,
hai, ba, ... cho đến 12 chi phần cũng được.
II) Ý nghĩa của mười hai chi phần nhân
duyên :
1-
Vô minh (Avijjà) : sự mê mờ, cuồng si của tâm thức ; hay nói cách khác
là sự không hiểu biết như thật về hiện hữu là duyên sinh, vô thường và không có
một tự thể độc lập, bất biến.
2-
Hành (Sankhàra) : động lực, ý chí
hành động tạo tác (ý hành) của thân,
miệng và ý.
3-
Thức (Vinnana) : tri giác của con
người về thế giới thông qua các cơ quan chức năng như mắt (nhãn thức), tai (nhĩ thức),
mũi (tỉ thức), lưỡi (thiệt thức), thân (thân thức) và ý (ý thức).
4-
Danh sắc (Nàma - rùpa) : sắc là phần vật
lý và sinh lý, danh là phần tâm lý. Với con người, sắc là cơ thể vật chất, các
giác quan và chức năng của chúng ; danh là các tâm phụ thuộc (tâm sở), như xúc, tác ý, thọ, tưởng và
tư.
5-
Lục nhập (Chabbithàna) : có nơi gọi là sáu
xứ, là sự tương tác giữa 6 căn (= 6 nội
xứ : mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý) và đối tượng của chúng là 6 trần (= 6 ngoại xứ : hình thể, âm thanh, hương
vị, mùi vị, xúc chạm và ý tưởng - pháp).
6-
Xúc (Phassa) : sự gặp gỡ, tiếp
xúc, giao thoa giữa các căn (chủ thể)
và trần (đối tượng). Nói rõ hơn, xúc
chính là sự tiếp xúc giữa con người và thế giới thông qua 6 cơ quan tri giác.
Lưu ý là, khi có thức phát sinh do mắt tiếp xúc với hình thể (sắc trần), thì sự nhận biết đó mới gọi
là nhãn thức... Vậy, xúc là sự gặp gỡ, giao thoa giữa căn, trần và thức.
7-
Thọ (Vedanà) : sự cảm thọ. Nói
khác đi là các phản ứng tâm lý phát sinh khi mắt tiếp xúc với hình thể, tai
tiếp xúc với âm thanh... ý tiếp xúc với ý tưởng (pháp).
Cảm thọ có ba loại : cảm thọ dễ chịu (lạc thọ), cảm thọ khó chịu (khỗ thọ) và cảm thọ trung tính (phi khỗ phi lạc). Đây là chất liệu mà
con người thường lấy để xây dựng những giá trị gọi tên là hạnh phúc và khỗ đau,
bất hạnh. Thực ra, chúng là do duyên sinh, luôn thay đỗi, không hề có một tự
tính cố định.
8- Ái
(Tanhà) : gọi đủ là ái dục
hay khát ái : sự vướng mắc, yêu thích, tham luyến; gồm có dục ái, sắc ái và vô
sắc ái.
9- Thủ
(Upadàna) : gọi đủ là chấp
thủ : sự kẹt vào, bám víu, đeo chặt của tâm thức vào một đối tượng.
10- Hữu
(Bhava) : tiến trình tương
duyên để hình thành, gồm dục hữu, sắc hữu và vô sắc hữu.
11- Sinh
(Jati) : sự ra đời, tạo
nên, xuất hiện. Sinh ở đây không phải là sự sinh ra em bé, mà là sự thành tựu
các bộ phận cấu thành (năm uẩn),
thành tựu các xứ (các cơ quan tri giác và
chức năng của chúng).
12- Lão
tử (Jaramrana) : sự suy nhược, tàn
lụi, tuổi thọ lớn, tan rã, tiêu mất, tử vong. Với sinh mạng con người, lão tử
được biểu hiện dưới các hiện tượng : răng rụng, tóc bạc, da nhăn, các cơ quan
tri giác suy yếu và chết.
III)
Sự vận hành của mười hai nhân duyên :
Thông qua ý nghĩa
của các chi phần mười hai nhân duyên, đặc biệt là chi phần lục nhập, một lần
nữa khẳng định rằng, dạng thức duyên khởi này là giáo lý nói về con người, bởi
vì chỉ ở con người mới có đầy đủ 6 cơ quan tri giác. Do vậy, khi nói về sự vận
hành của mười hai nhân duyên cũng chính là nói về sự vận hành con người.
Vì không nhận biết
hiện hữu (con người và thế giới) là
do nhân duyên hòa hợp mà sinh khởi, luôn biến dịch và không có một tự thể thường
hằng, nên con người ảo tưởng về một tự ngã : đây là cái tôi và đây là cái của
tôi (Vô minh). Chính ảo tưởng và sự
bất giác này quấy động tâm thức, làm sinh khởi lòng tham ái, chấp thủ... Và đó
là động cơ cho các hành động của thân, lời và ý (Hành). Mỗi khi ý niệm về một tự ngã sinh khởi thì Thức có mặt. Sự
hiện hữu của Thức tất yếu đòi hỏi sự có mặt của chủ thể nhận thức và đối tượng
nhận thức (Danh sắc, Lục nhập). Khi
căn, trần và thức gặp gỡ nhau (Lục nhập),
thì Xúc sinh khởi. Cảm thọ (Thọ) có
mặt ngay khi căn, trần và thức giao thoa nhau; cảm thọ sẽ tuôn chảy như một
dòng thác mà không một năng lượng nào có thể ngăn cản được, vì bản chất của cảm
thọ là thế. Thọ bao gồm những phản ứng tâm lý trước đối tượng như là buồn, vui,
yêu, ghét, trung tính... Cảm thọ dễ chịu sẽ làm phát sinh luyến ái (Ái). Trong Ái đã bao hàm chấp thủ và nó
được biểu hiện dưới nhiều hình thức tương ứng với các cảnh giới của tâm thức (Hữu). Hữu tạo ra Sinh, và mỗi khi đã có
Sinh, thì tiến tình suy yếu, tan rã, mất đi sẽ vận hành như một hệ quả đương
nhiên : nghĩa là lão tử, sầu, bi, khỗ, ưu, não ; hay khỗ đau có mặt. Đó là sự
vận hành của mười hai nhân duyên theo chiều sinh khởi (lưu chuyển) - chiều vận hành này có động lực là vô minh, tham ái và
chấp thủ. Nói khác đi, đây là con đường của khổ đau, luân hồi được dẫn dắt và
chi phối bởi vô minh.
Trong phần thuyết
minh về mười hai nhân duyên, Đức Phật không chỉ nêu lên con đường tập khởi, như
đã phân tích ở trên, mà Ngài đã chỉ ra nguyên nhân tập khởi và con đường đoạn
tận (hoàn diệt). Mỗi khi đoạn diệt
bất kỳ một chi phần nào trong chuổi 12 mắc xích (nhân duyên), thì lập tức nó tự tan rã. Tuy nhiên, với con người,
tham ái và chấp thủ là nặng nề nhất ; nên đoạn tận tham ái hoặc chấp thủ thì
vòng xích mười hai nhân duyên không còn lý do để hiện hữu. Đó là ý nghĩa của
lời Phật dạy : "Ái diệt tức Niết bàn".
Sự vận hành của
mười hai nhân duyên không chỉ đơn giản là tiến trình hình thành một sinh mạng (từ ý niệm tối sơ về hiện hữu đến hơi thở
cuối cùng), mà sự vận hành của nó (chiều
thành lập - lưu chuyển) nói lên căn nguyên có mặt của con người (và cuộc đời) ; nó không bị giới hạn bởi
thời gian và không gian. Bao giờ tham ái, chấp thủ hoặc vô minh chưa được đoạn
tận thì con người vẫn bị chi phối bởi sự vận hành của mười hai nhân duyên - nghĩa
là vẫn luẩn quẩn trong luân hôi, khổ đau bất tận - khi 12 nhân duyên đoạn diệt,
đồng nghĩa với toàn bộ khổ uẩn đoạn diệt.
IV)
Một số cách giải thích về mười hai nhân duyên
Mười hai nhân
duyên, hay Duyên khởi, là nguyên lý của mọi hiện hữu. Nó là sự thật nên không
bị giới hạn trong không gian và thời gian. Đức Phật khẳng định rằng : "Duyên
sinh là thực tính của mọi hiện hữu, sự thật này không thay đỗi dù Như Lai có
xuất hiện hay không xuất hiện". Một hiện hữu dù nhỏ như hạt nhân
của nguyên tử đến to lớn như vũ trụ cũng không nằm ngoài nguyên lý này. Với đặc
tính đó, giáo lý mười hai nhân duyên có thể dùng để soi sáng nhiều vấn đề khác
trong cuộc đời như luân hồi, nhân quả... tùy thuộc theo góc quan sát của người
giải thích. Ở đây chỉ giới thiệu 4 cách giải thích phổ biến.
1- Dạng thức tổng quát :
"Do cái này có mặt, cái kia có mặt ; do cái
này không có mặt, cái kia không có mặt ; do cái này sinh, cái kia sinh ; do cái
này diệt, cái kia diệt". (Tiểu
Bộ kinh, tr.291). Dạng thức này là cách trình bày khái quát, tóm tắt và đơn
giản nhất do chính Đức Phật nói. Nó được xem như là một nguyên lý cho mọi hiện
hữu trong thế giới hiện tượng. Nói chính xác hơn, nếu mười hai nhân duyên là
dạng thức duyên khởi riêng về con người, thì dạng thức tổng quát nói về bản chất
của thế giới hiện tượng, đặc biệt là thế giới không có tình thức (khí thế giới).
2- Ba đời hai tầng nhân quả (Tam thế lưỡng
trùng nhân quả) :
Ba đời là quá khứ,
hiện tại và tương lai (vị lai). Theo
cách giải thích này, vô minh và hành thuộc về quá khứ ; hiện tại gồm có 8 chi
phần (từ thức đến hữu) ; sinh và lão
tử thuộc về vị lai. Mặt khác, thức, danh sắc, lục nhập được xem là quả hiện tại
của nhân quá khứ là vô minh và hành, đây là tầng nhân quả thứ nhất. Các chi
phần thọ, ái, thủ và hữu là nhân hiện tại cho quả vị lai là sinh và lão tử ;
đây là lớp nhân quả thứ hai. Sự phối hợp giữa 2 lớp nhân quả này với các duyên
tạo nên một mối quan hệ có vẻ chặt chẽ, tương tục của dòng chảy thời gian : quá
khứ - hiện tại - vị lai. Qua cách giải thích này, ý đồ dùng giáo lý mười hai
nhân duyên để giải thích luân hồi đã thể hiện rõ. Tuy nhiên, cách phân chia như
trên sẽ dễ đưa đến một ngộ nhận, như là vô minh và hành chỉ có ở quá khứ, 8 chi
phần tiếp theo chỉ có ở hiện tại, sinh và lão tử thì thuộc về tương lai (!).
Thực ra, trong hiện tại (và ngay trong
mỗi chi phần) đã có mặt vô minh. Khi một chi phần hiện hữu thì lập tức có
sự hiện hữu của mười một chi phần còn lại. Nếu một chi phần bất kỳ vắng mặt thì
mối liên kết 12 chi phần nhân duyên tự sụp đỗ. Như đã phân tích, mười hai nhân
duyên là một dòng tương tục, chằng chịt, không hề lệ thuộc vào thời gian (quá khứ, hiện tại hay tương lai). Cách
giải thích này vô tình làm thô thiển và đơn giản hóa giáo lý mười hai nhân
duyên - một giáo lý vốn được xem là rất thâm áo và tinh tế.
3- Nhân quả đồng thời :
Khi nói "Do vô minh, hành sinh...", không
nên hiểu là hành do vô minh sinh ra. Giữa vô minh và hành... là mối quan hệ
nhân quả tuyến tính, đơn phương ; nghĩa là các chi phần trong mười hai nhân
duyên hiện hữu tùy thuộc vào yếu tố thời gian (trước - sau). Cách giải thích này nói rằng, ngay trong một sát na
(4) đã có sự hiện hữu đầy đủ của cả 12 chi phần. Khi ý niệm lệch lạc về một cái
tôi và cái của tôi (tự ngã) có mặt,
lập tức có mặt chuổi nhân quả tương tục : ý chí tạo tác (hành), tri giác phân biệt và chấp thủ (thức)... đến lão tử, sầu, bi, khổ, ưu, não. Mỗi một chi phần vừa là
quả vừa là nhân cho các chi phần khác, chúng nuôi dưỡng lẫn nhau.
4- Sự hiện hữu của một đời sống con người
(mạng căn) :
Một trong 3 yếu tố
quyết định để hình thành một thai nhi là có sự hiện hữu nghiệp thức đi đầu
thai. Nghiệp thức này là kết quả của vô minh và hành trong quá khứ. Giai đoạn
tượng thai chính là thời điểm danh sắc có mặt. Lục nhập là giai đoạn thai nhi
hình thành đầy đủ các căn. Giai đoạn trẻ bú mớm là giai đoạn của xúc. Trẻ từ
3-5 tuỗi là lúc thọ hình thành. Từ đây trở về trước, theo lối giải thích này,
là biểu hiện của nghiệp quá khứ, trẻ chưa tác ý thiện ác để tạo nên nghiệp hiện
tại. Khi trẻ biết vui, buổn, ưa, ghét... là lúc ái, thủ, hữu hình thành và
chính đây mới là giai đoạn mà trẻ tạo nghiệp để đưa đến hình thành một thân
mạng mới ở tương lai (sinh, lão tử).
V)
Một số hệ luận từ giáo lý mười hai nhân duyên
1- Con người (và cuộc đời) là hiện hữu của cấu trúc
mười hai nhân duyên, nên không hề có một tự ngã độc lập và thường hằng. Con
người chính là chủ nhân của cuộc đời mình, bởi giáo lý mười hai nhân duyên cho
thấy sự thật : "Không thể tìm ra một
đấng sáng tạo, một Brahman, hay một vị nào khác, làm chủ vòng luân chuyển của đời
sống ; chỉ có những hiện tượng diễn tiến, tùy thuộc vào những điều kiện"
(5).
2- Con người và
cuộc đời là vô ngã, không có một tự tính thường hằng (vô thường), nên bên trong mỗi người luôn tiềm ẩn một khả năng giác
ngộ, và cuộc đời luôn có cơ hội để xây dựng trở nên tốt đẹp.
3- Khi một chi
trong mười hai nhân duyên vận hành nghĩa là mười một chi phần còn lại cũng vận
hành. Điều này nói lên sự dung thông giữa cái "một" và cái "tất
cả", vượt ra ngoài khái niệm không gian, thời gian, từ đó có thể khẳng định
có sự hiện hữu của các loại thần thông.
C)
KẾT LUẬN :
1- Mười hai nhân
duyên là giáo lý về con người và nói cho đối tượng nghe là con người. Vì con
người bị vướng nặng vào vô minh, ái và chấp thủ nên Đức Phật đặc biệt nhấn mạnh
đến các chi phần này khi hướng dẫn con người tu tập vì mục đích giải thoát,
giác ngộ.
2- Mười hai nhân
duyên, hay duyên khởi, không phải là một giáo lý dùng để đối trị chấp ngã hay
nhằm giải thích thế giới ; mà đây là sự thật và là một pháp tu tập vì giải
thoát thiết thực cho con người. Do vậy, giáo lý này là căn bản của chánh kiến (thứ nhất trong Bát chánh đạo). Nói khác
đi, chánh kiến là cái nhìn toàn diện, như thật về các pháp là do duyên sinh.
3- Vô ngã hay giải
thoát, Niết bàn không phải là một trạng thái trống trơn, mà là sự trống rỗng ý
niệm về một tự ngã thường hằng. Nói cách khác, đó là trạng thái không có mặt vô
minh, tham ái và chấp thủ.
4- Mọi giá trị
trong cuộc đời đều mang tính tương đối, bởi cuộc sống là duyên sinh, luôn trôi
chảy và không thể nắm bắt.
5- Hiện hữu hay cuộc
sống là hiện hữu của các mối tương quan đa phương giữa con người với con người,
giữa con người với môi trường xã hội, môi trường tự nhiên... Khi một cá nhân
sống tốt là đang góp phần xây dựng một xã hội tốt đẹp, và ngược lại. Mỗi người
phải có trách nhiệm với cộng đồng, bởi xây dựng cộng đồng chính là đang bảo vệ
cá nhân mình.
6- Mười hai nhân
duyên, hay giáo lý duyên khởi nói chung, là một giáo lý vô cùng tinh tế và khó
hiểu, bởi con người vốn đã quen với nếp tư duy hữu ngã từ vô thỉ. Muốn có một
nhận thức đúng về giáo lý này đòi hỏi phải có sự quán sát và tư duy thường
xuyên về nó. Suy tư và thực tập giáo lý mười hai nhân duyên (theo chiều đoạn diệt), chắc chắn rằng sẽ
từng bước mang đến cho hành giả một cuộc sống độ lượng, vị tha, giải thoát và
an lạc trong hiện tại. Bởi như lời Phật dạy : "Ai thấy Duyên khởi là thấy Pháp,
ai thấy Pháp là thấy Phật ". Thấy Phật là thấy được thực tại tối
hậu, vượt ra ngoài mọi ràng buộc của thế giới ngã tính - bị giới hạn bởi vô
minh, tham ái và chấp thủ này./-
Chú thích:
(1) Còn gọi là Duyên sinh, Y tha khởi : sự nương tựa
vào các yếu tố khác mà sinh khởi, hình thành, hiện hữu ; tùy thuộc phát sinh.
(2) Diệt trừ, xả
bỏ, chuyển hóa (Pàli : uccheda)
(3) Hình thể
(sắc), cảm thọ (thọ), ấn tượng của tri giác (tưởng), ý chí tạo tác (hành), và
tri giác hiện hữu (thức).

0 Nhận xét