Header Ads Widget

Responsive Advertisement

Bài 2 : BÁT CHÁNH ĐẠO

 

Bài 2 :

BÁT CHÁNH ĐẠO



A.- DẪN NHẬP :

Đứng trước vấn đề đau khổ, mỗi người có một cách giải quyết khác nhau. Cũng vậy, các hệ thống tôn giáo, triết học, chính trị, xã hội trên thế giới không một hệ thống nào có cách giải quyết giống nhau. Tình trạng khác biệt này bắt nguồn từ quan niệm của mỗi người. Dẫu có nhiều cách, tựu trung chúng ta vẫn có thể xếp thành hai loại chính yếu : một là dựa vào các nguyên nhân ngoại tại để giải quyết; Hai là dựa vào những nguyên nhân ở chính bản thân con người để giải quyết. Hầu hết các hệ thống tôn giáo, chính trị, xã hội và ngay cả khoa học cũng thường tìm cách giải quyết các nguyên nhân ngoại tại gây ra đau khổ cho con người. Ví dụ tôn giáo hữu thần đặt vấn đề hạnh phúc và đau khổ của con  người vào bàn tay thượng đế. Hệ luận tất nhiên là : muốn có hạnh phúc người ta phải tin tưởng tuyết đối vào quyền năng ban phước giáng họa của vị thần tối cao này, tuân thủ các giới điều được xem là vị này đặt ra và thực hành các nghi lễ sùng bái vị thần này. Các học thuyết kinh tế, chính trị, xã hội v.v… tuy không dựa vào thần ngã nào để giải quyết, nhưng dựa vào các nguyên nhân ngoại tại khách quan khác như  quan hệ sản xuất, thiên tai, nhu cầu hưởng thụ .v.v… Khác với các lập trường này, Phật giáo chủ trương rằng đau khổ là một vấn đề của con người. Vì vậy phải tìm nguyên nhân thật sự và căn bản của nó nơi chính bản thân con người mới có thể giải quyết được tận gốc rể của vấn đề. Vậy bản chất thật sự của đau khồ là gì ? Nguyên nhân chính nào đưa đến cuộc sống đau khổ và phương pháp diệt khổ của Phật giáo ra sao ?

Vấn đề đau khổ của con người thực chất là vấn đề cảm thọ của con người. Không có cảm thọ thì cũng không thể có cái gọi là khổ. Tuỳ theo các yếu tố bên trong hay bên ngoài hợp lại để tạo nên khổ thọ mà ta có các loại khổ khác nhau; khổ vì nghèo, khổ vì giàu, khổ vì thiếu ăn, khổ vì bóc lột, áp bức, khổ vì bệnh tật, khổ vì sung sức, khổ vì xa nhau, khổ vì gần  nhau. Đức Phật đã tóm tắt thành 8 loại khổ, rồi quy về một định nghĩa tổng quát nhất : Chấp thủ ngũ uẩn là khổ. Nghĩa là hễ chấp vào bản thân này thì khổ. Định nghĩa này cho ta thấy sâu hơn thực chất của đau khổ. Nói rằng đau khổ là một cảm thọ, điều đó không có nghĩa, hễ cứ có cảm thọ là khổ. Dù cảm thọ ấy là khổ thọ, lạc thọ hay xả thọ. Tại sao ? Vì cảm thọ, dù là cảm thọ gì đi nữa. Khổ, lạc hay xả, thuộc vật chất hay tinh thần, chúng đều vô thường, mà tác dụng của vô thường là đưa đến khổ đau cho bất cứ ai muốn giữ mãi trong mình những cảm thọ ấy. Vì thế, chấp thụ nơi cảm thọ là khổ ( thọ thị khổ).

Một khi đã xác định được thực chất và nguyên nhân chủ yếu tạo nên đau khổ  thì biện pháp đứng đắn và hữu hiệu để diệt khổ đã trở nên rõ ràng. Biện pháp này do đức Phật Thích Ca Mâu Ni đưa ra và gọi là  BÁT CHÁNH ĐẠO

B.- CHÁNH ĐỀ :

I . ĐỊNH NGHĨA :

Bát Chánh Đạo  trước hết là biện pháp diệt khổ, gồm 8 yếu tố hoặc nói cách khác là 8 yếu tố của con đường diệt khổ . Nó còn có tên Bát Thánh Đạo do dịch sát nghĩa từ tiếng Phạn Astànga marga hoặc tiếng Pali attàrivamagga. Gọi là Chánh vì đó là biện pháp đúng đắn diệt khổ tận gốc và còn thăng hoa con người từ một cuộc sống đau khổ và tầm thường lên một cuộc sống an lạc và cao qúy. Biện pháp mầu nhiệm nầy toát ra từ một tâm hồn trong sáng và tấm lòng từ bi. Nó được đức Phật thuyết giảng trong buổi thuyết pháp đầu tiên cho 5 anh em Kiều Trần Như. Mở đầu sự nghiệp giáo hóa nhân loại của Ngài. Buổi thuyết pháp được ghi lại qua bài kinh tên là Chuyển Pháp Luân (dhammacakkavattana Samyutta).Trong bản kinh ấy đức Phật định nghĩa Bát Chánh Đạo là Trung Đạo. Đây là định nghĩa chính xác nhất của từ này. Nói Bát Chánh Đạo là trung đạo, vì con đường này không đi lệch vào con đường hưởng thụ dục lạc để diệt khổ, cũng không khổ hạnh ép xác để diệt khổ. Trái lại, nó là con đường được xây dựng trên mối liên hệ nhân quả giữa diệt khổ và biện pháp diệt khổ. Vì vậy, nó có thể giúp con người thực hành diệt tận gốc rễ của khổ nhờ khả năng thoát khỏi mọi sự ràng buộc nơi các cảm thọ của chính mình.

Mọi biện pháp diệt khổ bằng cách thỏa mản các nhu cầu hưởng thụ dục lạc của con người chỉ làm tăng thêm sự ràng buộc nơi cảm thọ, nghĩa là tăng thêm khổ chứ không diệt được tận gốc rễ đau khổ. Ngược với biện pháp này là khổ hạnh ép xác, một thứ biện pháp nhằm hủy diệt chính cảm thọ, hoặc nhằm chuộc lại những tội lỗi đã tạo ngày xưa với hy vọng sẽ đạt được một cuộc sống hạnh phúc trong đời sau. Hủy diệt cảm thọ bằng việc hành hạ thân xác thì chẳng khác gì một loại xả thọ, vô trí với những cảm thọ đang khởi lên, giống như những kẻ đang bị thuốc mê, không còn hay biết gì cả. Một khi cơ thể tê liệt với cảm thọ, người ta có thể không cảm nhận được những lạc thọ và khổ thọ do sự tiếp xúc giữa giác quan và ngoại cảnh tạo ra. Nhưng những khổ thọ thuộc tinh thần thì sao ? rõ ràng biện pháp này không đưa đến diệt khổ. Nó chỉ là một thứ tự tử dần dần. Cò hành xác để chuộc tội và cầu mong một qủa báo tốt đẹp mai sau thì cũng vô lý không kém gì việc dùng nước lạnh để mong rữa sạch tội lỗi mà mình đã phạm, những kẻ hành xác ấy không cò đủ sáng suốt để nhận ra rằng : chính sự chấm dứt khổ thọ đã là một lạc thọ.

Cả hai biện pháp trên – tức hưởng thụ dục lạc và khổ hạnh ép xác- đều không có liên hệ nhân qủa với việc diệt khổ. Vì vậy, đức Phật đã gọi chúng là những con đường lệch lạc, tà đạo. Chúng chỉ dẫn con người đến khổ đau mà không chấm dứt được khổ đau.

Chỉ có Bát Chánh Đạo, tức trung đạo, mới có thể đưa người thực hiện nó đạt đến đúng mục tiêu mong muốn : diệt khổ. Tại sao ? Đặt cơ sở trên mối tương quan nhân quả giữa nó với sự diệt khổ, Bát Chánh Đạo đưa con người thoát khỏi sự ràng buộc không những nơi cảm thọ, mà còn nơi tất cả những gì vô thường trên thế gian này. Nó có khả năng ấy nhờ những biện pháp giúp con người hoàn thiện các hoạt động của bản thân mình và đặc biệt là làm chủ các hoạt đông tâm lý mủa mình, từ loại tâm lý hạ cấp như cảm thọ và tri giác. Cho đến loạii tâm lý cao cấp như tư tưởng và nhận thức. Chính ý nghĩa này, Bát Chánh Đạo đã được đức Phật tuyên bố là con đường duy nhất chấm dứt khổ đau đưa đến giải thoát, hạnh phúc và thành tựu tuệ giác.

III. NỘI DUNG :

A.    CHÁNH KIẾN :

Theo định nghĩa chuyên môn. Chánh kiến là thấy tứ thánh đế. Tức thấy bốn sự thật nhiệm màu. Sự thật của khổ. Sự thật về những mối tương quan phát sinh khổ, sự thật của khổ diệt và biện pháp thật sự đưa đến diệt khổ.

Thế nào là thấy sự thật của khổ ? đó là thừa nhận hai đặc tính của khổ. Đặc tính thứ nhất : khổ là một thực trạng của con người. Đặc tính thứ hai : thực trạng ấy là một thực trạng phổ biến. Nói khổ là một thực trạng, vì nó là trạng thái xung đột, bất toại ý của con người đối với bản thân và hoàn cảnh mình sống. Thực trạng xuất hiện dưới nhiều dạng khác nhau. Sinh khổ, già khổ, bệnh khổ, chết khổ, cầu bất đắc khổ, ái biệt ly khổ. Nói tóm lại là khổ về tinh thần lẫn vật chất. Một khi còn chấp thủ vào bất cứ một cái gì ở trên đời này thì không ai có thể tránh khỏi sự xung đột hay bất toại ý vì tính chất vô thường của mọi sự vật .

Nói khổ là một thực trạng phổ biến vì tính chất vô thường bao trùm mọi sự vật. Mà tác dụng của vô thường thì nhất định đưa đến khổ đau, tức bất toại ý và xung đột cho những ai muốn giữ một cái gì đó làm thường.

           Vì khổ là một thực trạng, nên mọi sinh hoạt của con người đều không nằm ngoài mục đích giải quyết khổ, tức giải quyết mọi xung đột hay bất toại ý với bản thân và hoàn cảnh sống của mình. Toàn bộ mọi sinh hoạt chính trị, kinh tế, giáo dục, văn hóa, tôn giáo, khoa học v.v.. . .đều nhằm đến mục đích giải quyết những xung đột và bất như ý của con người. Vậy thì ta có thể kết luận mà không sợ nhầm rằng : khổ là vấn dề duy nhất chi phối mọi sinh hoạt của con người. Thừa nhận thực trạng nầy gọi là thấy khổ đế. Nó là bước khởi đầu để tìm hiểu lý do phát sinh và giải pháp chữa trị khổ.

           Thế nào là thấy sự thật về sự tập khởi của khổ ? Tức thừa nhận rằng khổ là một thực trạng duyên khởi và yếu tố then chốt làm cho hợp duyên ấy trở thành thực trạng đau khổ chính là lòng tham ái. Nói khổ là một thực trạng duyên khởi vì, trước hết khổ là một tập hợp cảm thọ do giác quan, ngoại cảnh, nhận thức và cảm xúc tương duyên với nhau mà phát sinh. Tính chất tương duyên nầy của cảm thọ là một phủ định đanh thép đối với bất cứ chủ trương nào cho rằng khổ thọ là một tư thế tất yếu nội tại trong con người, hay khổ là do tự mình gây ra, hoặc do một nguyên nhân ngoại tại gây ra - dù nguyên nhân ngoại tại đó là vật chất hay thần linh. Thứ nữa vì là một thực trạng duyên khởi, khổ đau mang tính chất vô thường, nghĩa là khổ không phải là một trạng thái nhất định mà là một trạng thái có thể thay đổi được. Thừa nhận tính chất nầy của khổ là mở đường cho việc chủ động chấm dứt khổ.

           Thế nào là thấy sự thật về khổ diệt ? Tức là thừa nhận hai sự thật : Thứ nhất, khổ là một thực trạng có thể được chấm dứt vĩnh viễn nhờ diệt trừ lòng tham ái - yếu tố then chốt để biến một tập hợp cảm thọ thành một trạng thái khổ. Và chỉ nhờ diệt trừ lòng tham ái mà khổ mới được diệt trừ vĩnh viễn. Thứ hai, hạnh phúc bất diệt chính là sự chấm dứt vĩnh viễn thực trạng khổ này chứ không phải một đặc ân hay một món quà ở ngoài thực trạng ấy do ai đó ban phát cho mình. Với ý nghĩa nầy, thực trạng khổ trở thành một thực tế mầu nhiệm, thực tế của bậc Thánh, tức Niết bàn, khi nó được loại bỏ yếu tố tham ái. Chính nhờ khổ diệt mà khổ trở thành một thánh đế, vì vậy ai quay lưng với thực trạng đau khổ của chính mình và của người khác, bất cứ ai phủ nhận tính chất vô thường nơi một tập hợp duyên khởi và tác dụng đau khổ mà nó gây ra cho con người, và cho đó là cái nhìn bi quan, yếm thế, thì kẻ đó không bao giờ tìm được hạnh phúc bất tử.

           Một câu hỏi nêu ra ở đây là, thực trạng đau khổ là một tập hợp cảm thọ  có tính chất vô thường và tính chất vô thường ấy có tác dụng gây ra đau khổ cho con người, vậy thì tại sao chúng ta không loại bỏ tính chất vô thường nầy để chấm dứt khổ mà phải loại bỏ tham ái ? Có 2 lý do : Một, tính chất vô thường là hệ quả tất nhiên của mọi tập hợp duyên khởi, chứ không phải là một trong những yếu tố tương duyên với nhau để phát sinh tập hợp ấy. Nó là hằng số của mọi tập hợp duyên khởi, được rút ra từ nguyên lý vô ngã của thực tiển duyên khởi. Thứ hai, tham ái mới chính là tham số then chốt cấu tạo nên thực trạng đau khổ. Vấn đề đã trở nên rõ ràng : Người ta chỉ có thể thay đổi tham số của một tập hợp, chứ không thể loại bỏ hằng số của nó.

           Chính vì lòng tham ái và sự cố chấp nơi khái niệm về một cái tôi bất biến, chúng ta đã biến tập hợp cảm thọ trở thành một thực trạng mâu thuẩn và bất toại ý với chính mình.

           Thế nào là thấy con đường thật sự đưa đến diệt khổ ? Tức thừa nhận Bát Chánh Đạo là con đường đúng đắn diệt khổ một cách hữu hiệu. Tại sao ? Vì nó là phương pháp giúp con người chuyển hóa mọi hoạt động của mình thoát ngoài sự chi phối của tham ái nhờ vào nội tâm an tịnh mà họ đạt được khi thực hiện phương pháp nầy. Nội tâm an tịnh là năng lực duy nhất giúp tâm xả ly mọi ràng buộc của mình nơi bất cứ cái gì trên đời. Khi tâm bất động, xả ly mọi cảm thọ thì chính cảm thọ cũng trở nên an tịnh, và tham ái không còn cơ hội khởi lên. Thấy được điều nầy thì ta mới hiểu tại sao các yếu tố mà đức Phật đưa ra trong Bát Chánh Đạo để diệt khổ đều là những yếu tố tương duyên với nhau để phát sinh định - tức sự an tịnh của nội tâm.

           Với những trình bày trên về chánh kiến, ta có thể tóm tắc lại như sau :

           Chánh kiến là lập trường đúng đắn của người Phật tử. Lập trường ấy xác nhận rằng :

           1.- Khổ là một thực trạng duyên khởi, có tính chất vô thường, vô ngã.

           2.- yếu tố them chốt tạo nên khổ là tham ái và chấp thủ.

           3.- Khổ diệt chính là an lạc, hạnh phúc

           4.- Biện pháp diệt khổ tận gốc là biện pháp diệt trừ lòng tham ái và chấp thủ. Biện pháp đó chính là Bát Chánh Đạo.

           Kiên dịnh trong lập trường này, người Phật tử không dựa vào bất cứ một cái gì trên đời để tìm cầu hạnh phúc. Trái lại, chúng ta hãy chuyển hướng mọi hoạt động của mình vào mục đích duy nhất : Thể hiện Bát Chánh Đạo ngay trong cuộc sống đời thường của mình. Khi pháp được thể hiện, khổ chấm dứt, thì đó chính là lúc hạnh phúc bất tử xuất hiện. Giữa cuộc thế vô thường, ta vẫn sống vững vàng trong nội tâm an lạc.

           B.- CHÁNH TƯ DUY :

           Bước đầu tiên trong việc chuyển hướng mọi hoạt động của mình vào mục đích thể hiện Bát Chánh Đạo là Chánh Tư Duy, nghĩa là hướng mọi tư duy của mình vào việc xả ly tham ái và sự chấp thủ. Vì vậy, Chánh Tư Duy được định nghĩa một cách cụ thể là : Khởi lên những tư tưởng ly tham, ly sân và bất hại. Sân hận và tàn hại là mặt trái của lòng tham ái. Nó là biểu hiện cao độ của một nội tâm bất an, bị khuấy động bởi sự bất mãn và lòng vị kỷ. Việc khởi lên những tư tưởng ly tham, ly sân và bất hại không những chỉ làm cho nội tâm trở nên thanh thản, trong sáng để xả ly tham ái và chấp thủ, mà còn là điều kiện tiên quyết để xóa bỏ bức tường ngăn cách giữa mình và mọi người trong đời sống xã hội. Với ý nghĩa này, Chánh Tư Duy giúp người Phật tử có tám khả năng giải quyết êm đẹp những mâu thuẫn mới trong trường hợp giải quyết bằng phương pháp bạo động. mà bản chất đấu tranh là tạo tiền đề cho những mâu thuẫn mới theo nguy6en tắc : Oán oán chập chùng". Vì vậy phương pháp hữu hiệu nhất để giải quyết mọi xung đột chính là đường lối hòa bình, phát xuất từ những tư tưởng đầy thiện ý và bất hại (tức từ Chánh Tư Duy) Người sống với chánh tư duy thì môi trường sinh học của họ toát ra một không khí an lành. Với điều này không thôi, họ đã giúp cho những người sống chung quanh họ có được một món quà quý báu đó là bình an..

           Tâm bình thế giới bình. Được nuôi dưỡng bằng những tư tưởng ly tham, ly sân và bất hại, nội tâm người thực hành chánh tư duy sẽ tỏa ra ánh sáng đẹp đẽ của một đời sống an lạc qua những hoạt động khác của bản thân, tức những hoạt động của thân và miệng.

           C.- CHÁNH NGỮ :

           Ngôn ngữ là bộ mặt của tâm hồn. Một nội tâm có chánh tư duy sẽ biểu lộ sắc thái của mình qua những lời ăn tiếng nói đem lại an vui cho mình và người khác. Cách nói đó gọi là Chánh ngữ.

           Vậy Chánh ngữ là nói năng đúng đắn, phù hợp với chánh tư duy, và với mục đích diệt khổ bằng phương pháp bát Chánh Đạo. Cách nói năng này được xếp thành 4 loại sau :

           1. Không vọng ngữ : Vọng ngữ là nói không thật, cốt để lừa dối người khác nhằm che cái xấu của mình hoặc vụ lợi cho mình, hoặc vụ khống kẻ khác. Chuyện có nói không có, chuyện không có nói có, chuyện có làm nói không làm, chuyện không làm nói làm. Kiểu ăn nói này không những đánh mất niềm tin của người khác nơi mình mà còn gây ra những bất hòa, thù hận giữa mình với họ. Đây là yếu tố gây khổ cho mình và người. Cho nên những ai muốn thực hành chánh ngữ, thì phải tránh xa kiểu nói năng này. Nói thành thật không những cũng cố lòng tin cậy lẫn nhau mà còn là cách tốt nhất để tập luyện đức tính tôn trọng sự thật. Và tôn trọng sự thật là yếu tố then chốt đầu tiên để diệt khổ, tức chánh kiến. Những ai chuyên môn lừa dối kẻ khác, cũng sẽ lừa dối luôn chính mình. Và vì vậy đánh mất khả năng diệt khổ.

           2.- Không lưỡng thiệt : Lưỡng thiệt là nói hai luỡi, kiểu "Đâm bị thóc, thọc bị gạo", đến người này nói xấu người kia, đến người kia nói xấu người này, cốt để ly gián đôi bên, hoặc lắm khi chỉ vì cái tật ngồi lê đôi mách. Tác hại của lưỡng thiệt là làm cho đôi bên chia rẽ, thù hận, đến mức có thể đánh giết nhau. Có hiểm họa, nên người An định nghĩa lưỡng thiệt là "bẻ gãy tình bằng hữu", và ví nó như một loài muỗi nhỏ mà độc hiểm, đến vo ve bên lỗ tai người này, hút máu họ rồi đi truyền bệnh sốt rét cho kẻ khác. Người có chí diệt khổ cho mình và người thì không thể sử dụng kiểu ăn nói đâm bị thóc thọc bị gạo này được. Để sống phù hợp với luật tương duyên, người ta cần có những lời nói xây dựng tạo hài hòa đem lại bình yên và hòa hợp giữa mọi người.

           3. Không ác khẩu : Ác khẩu là nói cộc cằn, thô lỗ thóa mạ người nghe. Đó là những lời nói xuất phát từ lòng sân hận dễ làm mất lòng người khác, dễ biến bạn thành thù. Người hành chánh ngữ lòng đầy thiện ý đem vui và cứu khổ người khác, từ bỏ cách ăn nói ác khẩu này, chỉ nói những lời hòa nhã để xây dựng và tạo sự lơi lạc cho nhau.

           4. Không ỷ ngữ : Ỷ ngữ là những lời hoa hòe nhảm nhí cốt để nịnh nót làm xiêu lòng người khác hoặc chỉ để ngồi lê đôi mách cho qua thì giờ. Có tính chất như vậy, ỷ ngữ không đem lại lợi ích gì cho người nói lẫn người nghe mà trái lại chỉ làm cho tâm thêm dao động rối loạn. Người chánh ngữ tránh xa kiểu ăn nói nầy vì ý thức rằng trên đường tìm về sự an tịnh của nội tâm để trừ diệt tham ái, thì không thể không "Ngôn ngữ đạo đoạn". Tầm và tứ mới chỉ là những lời nói trong tâm mà còn cần phải bỏ, huống gì cho nó tuôn bừa bãi ra cửa miệng. Phải biết "im lặng như chánh pháp, nói năng như chánh pháp". Nếu cần phải nói để cải thiện hoàn cảnh thì "Một câu vắn tắt đầy ý nghĩa mà làm người nghe an lạc còn hơn rôm rã ngàn lời nhưng vô nghĩa".

           D.- CHÁNH NGHIỆP :

           Nghiệp là hành động có tác ý. Như vậy chánh nghiệp là những hành động đúng đắn được hướng dẫn bởi chánh tư duy. Nói một cách cụ thể, đó là những hành động không phạm vào sát sanh, trộm cắp và tà dâm mà trái lại, luôn luôn thể hiện lòng từ ái và bi mẫn đối với mọi loài, tức là những hành động bảo vệ sự sống, bố thí và trung chính. Không sát, đạo, dâm là những giới luật căn bản đặt trên nền tảng từ bi mà đức Phật chế ra, để người Phật tử dùng nó xây dựng một đời sống an lành và tốt đẹp cho mình từ phạm vi cá nhân cho đến gia đình xã hội.

E. CHÁNH MẠNG :

Nuôi sống mình bằng những nghề nghiệp chân chánh, tức phù hợp với chánh tư duy gọi là chánh mạng. Chánh mạng chính là chánh nghiệp được nhìn dưới khía cạnh nghề nghiệp. Nói một cách cụ thể, chánh mạng là không làm những nghề tổn hại đến sự sống, nhân cách và quyền lợi kẻ khác như buôn người, bán thịt, buôn bán vũ khí, rượu, ma túy, sách báo phim ảnh đồi trụy,bạo lực, hoặc bóc lột sức lao động người khác v.v...tất cả các nghề nghiệp này một mặt làm thiệt hại đến đời sống vật chất, tinh thần của mình, của người và toàn bộ xã hội. Mặt khác nó ảnh hưởng trở lại chính tâm hồn mình, phá hủy các đức tính cao quý như từ-bi-hỷ-xã của chánh tư duy, đồng thời tăng trưởng lòng tham sân si tức những nhân tố gây  ra đau khổ cho mình và cho xã hội. Tâm bất chánh dẫn đến những hoạt động bất chánh.. Quá trình tác động qua lại này biến cuộc sống thành một vòng luẩn quẩn của khổ đau.

F. CHÁNH TINH TẤN :

Chánh tinh tấn cũng còn gọi là tứ chánh cần, tức nổ lực ngăn chặn những tư tưởng bất thiện không cho chúng phát khởi. Nổ lực tiêu diệt các tư tưởng bất thiện đã khởi, không cho chúng phát khởi trở lại. Nổ lực khởi lên những tư tưởng thiện chưa có, nổ lực duy trì và phát huy các tư tưởng thiện đã phát khởi. Nói cách khác, chánh tinh tấn chính là năng lượng nuôi dưỡng và phát huy chánh tư duy. Với tác dụng này, nó còn là năng lượng biến các yếu tố khác trong Bát Chánh Đạo thành hiện thực diệt khổ.

G. CHÁNH NIỆM :

Niệm là ghi nhớ. Chánh niệm tức ghi nhớ mục đích chánh đáng của mình là bỏ lòng tham ái để diệt khổ. Vì vậy, câu định nghĩa đúc kết của chánh niệm là niệm thân bất tịnh, niệm thọ thị khổ, niệm tâm vô thường, niệm pháp vô ngã. Khi nghĩ đến thân, dù của mình hay của người, thấy nó là một tập hợp ô uế đầy máu mũ thì tham dục không khởi. Khi nghĩ đến thọ, biết rằng cảm thọ có tính vô thường hễ tham đắm nó sẽ rước khổ vào mình nên không truy cầu, không hụp lặn trong các cảm thọ, khi nghĩ đến, tâm thấy nó biến đổi nhanh chóng trong từng sát na không một tích tắc tạm dừng. Tính chất này làm cuộc sống của mình căng thẳng và mệt mỏi nên phải dứt khoát tìm cách thoát ngoài sự ràng buộc của các ý tưởng,  tìm cách làm chúng lắng lại. Khi nghĩ đến pháp tức mọi sự vật trên đời, những gì mình thấy, mình nghe, mình nếm, mình ngửi, mình rờ, mình nghĩ, nói tóm tất cả những gì mình nhận biết được qua 6 giác quan, chúng chỉ là bóng dáng sự vật được ghi nhận lại nơi các giác quan. Bản thân sự vật vốn là một tập hợp duyên khởi không có một tư thế riêng nào làm sao mình nắm được nó? Cái mà mình nắm chẳng qua là bóng dáng của nó là thọ, là tưởng và thức về nó mà thôi. Ôm giữ những thứ này, đầu óc nặng nề, thân hình mỏi mệt, tâm thêm rối loạn. Biết vậy nên người phật tử quyết từ bỏ lòng tham luyến nơi bất cứ gì mình nhận được qua các giác quan. Với ý nghĩa như thế, chánh niệm là buộc ý thức xả ly cần thiết để đưa tâm trở về trạng thái trong sáng, giúp tâm dễ đi vào định. Không có chánh niệm không thể có chánh định.

H. CHÁNH ĐỊNH :

Định là tâm ở yên một chỗ. Muốn vậy, tâm phải không còn bị ràng buộc vào một cái gì cả. Vì thế yếu tố then chốt tạo nên định chính là xả, tức ý thức từ bỏ tham ái. Như vậy, chánh định là trạng thái an tịnh của tâm. Chính trạng thái an tịnh này của tâm đã biến ý thức xả ly, thành một sức mạnh, xả ly có khả năng diệt sạch mọi tham ái và chấp thủ nghĩa là chấm dứt khổ. Vì thế, đức Phật từng tuyên bố : tâm bất động là giải thoát bất tử.

            Có nhiều phương pháp để tập luyện chánh định. Chẳng hạn phương pháp giữ chánh niệm khi thở vô, thở ra.

            Giữ chánh niệm ở 4 chỗ ( thân, thọ, tâm và ý ), quán nhân duyên, quán vô lượng tâm, quán tâm địa, như lai thiền v.v...tất cả đều không ngoài mục đích đưa tâm về trạng thái trong sáng, bất động nhờ xả ly hoàn toàn những ô nhiễm tham sân si. Một tâm hồn như vậy mới có thể là căn bản cho một cuộc sống lành mạnh, an vui.

            Trên kia là những trình bày chi tiết về 8 yếu tố hợp thành Bát Chánh Đạo cùng những mối liên hệ giữa chúng. Mối liên hệ ấy được hình dung như một cái kiềng ba chân. Chân thứ nhất là giới gồm chánh ngữ, chánh nghiệp và chánh mạng; chân thứ hai là định gồm chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định;; chân thứ ba là tuệ gồm chánh kiến và chánh tư duy. Ai cũng dễ thấy rằng nhờ giới phòng hộ, điều hòa các hành động của thân và miệng mà tâm dễ đi đến định, nhờ định mà tâm trong sáng tạo điều kiện cho tuệ giác phát huy tác dụng diệt khổ của nó. Thế thì tại sao Đức Phật lại xếp hai yếu tố chánh kiến và chánh tư duy của tuệ giác trước các yếu tố thuộc giới và định? Tại sao ngài không xếp theo thứ tự giới-định-tuệ? Việc này chẳng có gì khó hiểu. Thứ tự trong Bát Chánh Đạo là thứ tự phải có trên bước đường tu tập còn thứ tự trong giới- định- tuệ sắp xếp  từ nhân đến quả. Mọi hoạt động của con người đều do tâm chủ động, tâm hướng lên thì các hoạt động của thân và khẩu đều là những hành động hướng thiện.Tâm chúi xuống thì hoạt động của thân và khẩu trở thành bất thiện.Trên bước đường diệt khổ, chánh kiến là kim chỉ nam còn chánh tư  duy là động cơ thúc đẩy mọi hoạt động của người Phật tử tiến về hướng giải thoát an vui mà chánh kiến đã chỉ. Vậy thì việc đặt hai yếu tố này đứng đầu là một điều tất yếu.

            Nếu xét về tầm quan trọng thì chánh kiến, chánh tin tấn và chánh niệm là 3 yếu tố then chốt. Chúng liên kết với nhau tạo thành một năng lực kỳ diệu giúp các yếu tố còn lại được thể hiện trọn vẹn. Không có bộ ba này thì chánh tư duy không thể phát  khởi và duy trì. Chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng và chánh định cũng thế.

BÁT CHÁNH ĐẠO VÀ CUỘC SỐNG CỦA NGƯỜI PHẬT TỬ TẠI GIA:

Bát Chánh Đạo nguyên là phương pháp diệt khổ mà Đức Phật đã thuyết cho 5 anh em Ngài Kiều Trần Như. Những vị này đều xuất gia, từ bỏ gia đình để chuyên cầu giải thoát. Đến việc nuôi sống thân mạng mà cũng chỉ dựa vào xin ăn vì họ muốn giành hết tâm trí và thì giờ vào việc thực hiện chánh pháp. Vậy thì người Phật tử tại gia, đang sống giữa đời thường, bị ràng buộc và chi phối bởi nhiều nhân duyên trong cuộc đời ấy, họ có thể thực hiện Bát Chánh Đạo để diệt khổ cho mình, cho gia đình và xã hội được không? thực hiện toàn bộ hay chỉ một số của nó? và làm thế nào thực hiện một cách hữu hiệu phù hợp với hoàn cảnh của người Phật tử tại gia?

Bát Chánh Đạo được xem là một phương pháp diệt khổ hữu hiệu vì nó đánh bật tận gốc rễ của khổ là tham  ái và chấp thủ. Điều này có nghĩa rằng không có tham ái thì cũng không cần Bát Chánh Đạo. Sống giữa đời thường là sống với hữu dục, với những thứ có rất  nhiều vị ngọt, cho nhiều cảm thọ hấp dẫn, và vì vậy tham ái dễ gia tăng. tham ái càng tăng thì khổ cũng càng tăng. do đó càng cần phải áp dụng Bát Chánh Đạo và hơn nữa, càng cần phải áp dụng tòan bộ mới mong giảm khổ và có được một cuộc sống an lạc. Vấn đề  đáng nói là áp dụng thế nào cho phù hợp với hoàn cảnh của mình để đạt  kết quả hữu hiệu. Dầu tại gia hay xuất  gia, chúng ta chỉ đạt  được kết quả khi nào các yếu tố của Bát Chánh Đạo được phát khởi và duy trì thì tham ái và chấp thủ bị đẩy lùi, đi dần đến chỗ tiêu  diệt. Trong người Phật tử tại gia, chúng ta làm thế nào để thực hiện điều này?

Đối  với chánh kiến và chánh tư duy: cần phải tìm thầy học hỏi để nắm vững giáo lý Nhân Duyên và Tứ  Đế. nắm vững hai giáo lý này, chúng ta nhất định có chánh kiến. Có chánh kiến thì mới có chánh tư duy. Bước cần thiết tiếp theo là làm sao nuôi dưỡng hai yếu tố này lớn mạnh mãi trong ta để làm chất liệu cho mọi hoạt  động của mình? muốn thế phải phát nguyện quy  y tam bảo, thọ trì giới pháp. hành động này là  hành động xác định lập trường của người Phật tử, vừa  tỏ quyết  tâm chỉ dựa  vào pháp và luật Phật dạy để xây dựng cuộc sống  an lạc chứ không dựa  vào cái gì  khác. Để  cụ thể hóa và kiên định lập trường của mình, người Phật tử chọn một chỗ  trang nghiêm nhất trong nhà để thiết một  bàn thờ Phật. nếu nhà quá hẹp không có  chỗ thì thỉnh một tượng Phật nhỏ đeo nơi cổ cũng được. hình ảnh Đức Phật đập vào mắt  hàng ngày sẽ nhắc nhở ta về chánh kiến, đồng thời gợi lên trong ta những chánh tư duy  làm đẹp sinh hoạt hàng ngày của ta. Ngài là biểu hiện của một đời sống an lạc, kết tinh của  từ bi  và trí tuệ. vì vậy, hình ảnh Ngài có năng lực kỳ diệu gia hộ ta phát khởi và duy trì cánh kiến và chánh tư duy, giúp ta sống an lành. 

Đối với chánh ngữ, chánh nghiệp và chánh mạng: Hãy tập thành thói quen luôn luôn ý thức về mọi hoạt động của mình, từ lời ăn tiếng nói cho đến đi đứng nằm ngồi, giải trí và làm việc. Tự hỏi những hành động ấy có phù hợp với chánh kiến và chánh tư duy không? có bị ô nhiễm  bởi tham ái không? cách kiểm tra hữu hiệu nhất là phải tính xem ta đang làm những việc ấy với tâm an tịnh hay đang xao động, căng thẳng? nếu đang xao động, căng thẳng thì hãy lắng tâm, hít vô và thở ra những hơi thật dài, đồng thời lặng lẽ quan sát, nhận biết chúng, xong lập tâm buông thả chúng, trở về trạng thái thanh thản hoàn toàn. chỉ cần vài hơi thở vô thở ra, tâm ta sẽ trở nên thanh thản lại. đây chánh là cách dùng chánh niệm nơi thân để phát khởi và nuôi dưỡng chánh ngữ,  chánh nghiệp và chánh mạng. Tập đều cách này, mọi sinh hoạt hàng ngày trong đời thường của ta trở thành một hiện thân của pháp tức Bát Chánh Đạo. Khi pháp được thực hiện ta sẽ chứng nghiệm được ngay mùi vị an lạc và giải thoát mà Bát Chánh Đạo đem đến. để tạo điều kiện thuận lợi cho phép tập luyện này có hiệu quả, ta phải dứt khoát tránh xa những cách ăn nói, những hành động, những nghề nghiệp đã được đề cập chi tiết trong phần nội dung của Bát Chánh Đạo.

Đối với chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định: đây là 3 yếu tố của định. nỗ lực tập cho tâm ta luôn có ý thức xả ly tham ái và chấp thủ thì đó là thực hành chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định, tập đều như vậy thì nhất định có chánh định. Với ý nghĩa này, phép thực tập chánh định phù hợp với hoàn cảnh người Phật tử tại gia nhất là phép bố thí. Bố thí chính là xả ly. Hướng việc bố thí đến mục đích xả ly tham ái và chấp thủ thì đó là thực hành chánh định. Trong kinh Lăng Già, Phật gọi phép chánh định này là Như Lai thiền (tathàgatadhyàna) : “ Này Đại Huệ ! Thế nào là Như Lai thiền? sống với nội tâm trong sáng mà làm lợi ích cho chúng sanh không thể tưởng được thì đó là Như Lai thiền". Cuộc sống vốn là thai tạng của Như Lai. Vì dù thế nào đi nữa nhiễm hay tịnh, khổ hay sướng, nó vẫn luôn luôn vận hành theo chân lý vô ngã của duyên khởi. do lòng tham ái và chấp thủ, ta đi ngược lại chân lý này, mâu thuẫn với cuộc sống và biến thai tạng Như Lai thành một trạng thái khổ đau. Khi hướng tâm đến xả ly tham ái, đem lòng trong sáng mà làm lợi ích cho mình và xã hội, ta đang hành động phù hợp với chân lý vô ngã (Như Lai). Như Lai thiền được thực hiện, mâu thuẫn tan biến và thực tế giải thoát an vui của Như Lai thể hiện ra giữa mình và mọi người:

Nhạm Vận thịnh suy vô bố úy

Thịnh suy như lộ thảo đầu phô

( Tùy cuộc thịnh suy lòng không núng

Thịnh suy như sương đồng cỏ mềm )

                                    Thiền Sư Vạn Hạnh

Đây là phép thiền quán kỳ diệu nhất trong mọi phép thiền quán và đặc biệt nó thích hợp cho người Phật tử  tại gia nhất. Không kể đàn ông hay đàn bà, điều khó là ta có dám làm không, và khi đã làm thì có quyết tâm và thường xuyên không. Để nuôi dưỡng phép chánh định này lớn mạnh mỗi ngày, tùy theo khả năng mình, ta đều bố thí cho người khác một trong 3 loại bố thí là tài thí, pháp thí và vô úy thí.

Hỗ trợ cho phép chánh định này là phép giữ chánh niệm khi thở vô thở ra. Mỗi ngày, vào buổi sáng khi thức dậy, hay buổi tối trước khi ngủ, người Phật tử hãy giành một ít thì giờ từ 15 phút đến ½  tiếng đồng hồ để tập phép chánh định này ở trước bàn thờ Phật hay trên giường ngủ của mình. Thực tập đều đặn phép này tâm hồn ta dễ an tịnh. tâm an tịnh, người Phật tử biến việc bố thí hàng ngày của mình thành một phép thiền quán gọi là Như Lai thiền. Đây là một phép vệ sinh và thể dục tinh thần quan trọng không kém gì phép vệ sinh và thể dục thân thể../-

Đăng nhận xét

0 Nhận xét